LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG (1930 - 1975) In trang
18/03/2019 09:33 SA

Chỉ đạo biên soạn

BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG

Ban chỉ đạo

LÊ THANH PHONG

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy - Trưởng ban.

KHUẤT MINH PHƯƠNG

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - Phó ban.

TRƯƠNG VĂN THU

Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Ủy viên.

TRẦN DUY VIỆT

Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy - Ủy viên

NGUYỄN VĂN YÊN

Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính - Ủy viên

NGUYỄN THỊ MỸ CÔNG

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - ủy viên.  

Biên soạn, chỉnh lý

NGUYỄN VĂN HƯƠNG

NGUYỄN SĨ HIỀN

NGÔ XUÂN TRƯỜNG

---------------------------

Phần mở đầu

VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI LÂM ĐỒNG

Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên, nằm giữa các toạ độ: 11˚12’- 12˚15’ vĩ độ bắc và 107˚45’ kinh độ đông, có diện tích 9.764,8km² chiếm khoảng 2,9% diện tích cả nước. Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận; phía tây giáp tỉnh Bình Phước; phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía nam- đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc.

Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bố khá rõ ràng từ bắc xuống nam. Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1300m đến hơn 2000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m). Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500- 1000m). Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh- Bảo Lộc và bán bình nguyên có độ cao 100- 300m.

Lâm Đồng có diện tích đất chiếm 98% diện tích tự nhiên, tương đương 965.969 ha, bao gồm 8 nhóm đất trong đó có 2 nhóm chiếm diện tích tương đối lớn là đất xám (659.648 ha) và đất đỏ bazan (212.309 ha). Các loại đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.

Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của tỉnh, diện tích đất rừng chiếm trên 60%, bao gồm rừng tự nhiên (rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng hỗn giao) và rừng trồng. Lâm Đồng là một trong những tỉnh có hệ thực vật phong phú nhất ở Việt Nam với trên 2000 loài, trong đó có 20 loài cây quý thuộc 18 chi, 14 họ và 4 ngành. Đa số các loài cây quý hiếm như thông 2 lá dẹt, thông đỏ, bạch linh phân bố ở vùng sâu, vùng xa. Hệ động vật có 128 họ thuộc 38 bộ bao gồm các nhóm côn trùng, lưỡng thê, bò sát, chim và thú. Có một số loài đặc biệt quý hiếm và là một trong số rất ít nơi được coi là còn những cá thể cuối cùng của tê giác Java, bò xám, nai cà tong ở Việt Nam.

Bên cạnh tài nguyên rừng, Lâm Đồng là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản. Đến nay đã phát hiện được 165 điểm khoáng sản, trong đó có 23 mỏ lớn, 3 mỏ vừa, 48 mỏ nhỏ và 91 điểm quặng. Các mỏ và điểm quặng được chia thành 7 nhóm: than, kim loại, không kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, di thường phóng xạ, nước khoáng và nóng.

Là tỉnh có địa hình phức tạp và độ nghiêng lớn từ tây bắc xuống đông nam nên khí hậu Lâm Đồng có sự khác biệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình trong năm giao động từ 16˚ đến 23˚C, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm ở từng khu vực không nhiều. Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu ở Lâm Đồng có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa hàng năm phân bố không đều theo không gian và thời gian, giao động từ 1600- 2700mm.

Hệ thống sông, suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, có lưu vực nhỏ và nhiều ghềnh, thác ở thượng nguồn. Các sông lớn trong tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Ngoài nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, Hàm Thuận- Đạ Mi, các nhà máy thuỷ điện Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3 đang được xây dựng sẽ cung cấp sản lượng rất lớn cho hệ thống điện quốc gia. Mặt khác, do địa hình phức tạp nên Lâm Đồng còn có nhiều hồ nước nhân tạo phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau: cung cấp nước cho các nhà máy thuỷ điện; cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và những thắng cảnh nổi tiếng.

Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và khí hậu ôn hoà nên Lâm Đồng còn có lợi thế về du lịch. Nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Hồ Đa Thiện, Khu du lịch Tuyền Lâm, Thác Prenn, Thác Đatanla (Đà Lạt), Khu du lịch Đankia- Suối vàng, Núi Bà (Lạc Dương), Thác Gougáh, Thác Pongour (Đức Trọng), Thác Voi (Lâm Hà), Thác Da Mbri (Bảo Lộc)… là những điểm du lịch nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.

Về hành chính   

Cuối thế kỷ XIX vùng đất tỉnh Lâm Đồng hiện nay thuộc hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Năm 1893, bác sĩ Yersin phát hiện ra cao nguyên Lang Bian, đặt nền móng cho việc hình thành thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm hành chính ở Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Bian. Năm Thành Thái thứ XVII (1905), bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, trực thuộc lại tỉnh Bình Thuận.

Ngày 6 tháng 1 năm 1916, Toàn quyền E. Roume ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian bao gồm toàn bộ vùng rừng núi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước hiện nay. Địa giới tỉnh Lang Bian gồm: phía bắc giáp sông Krông Knô, phía đông nam giáp sông Krông Pha (nay thuộc tỉnh Ninh Thuận), phía nam giáp sông Ca Giây một nhánh sông Phan Rí (nay thuộc tỉnh Bình Thuận), phía tây giáp biên giới Cam- pu- chia [1].

Ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội đồng nhiếp chính vua Duy Tân ra Dụ thành lập tại vùng Lang Bian trung tâm đô thị Đà Lạt. Chiếu dụ ngày 20 tháng 4 năm 1916, ngày 30 tháng 5 năm 1916, Khâm sứ J.E. Charles kýý Nghị định thành lập trung tâm đô thị Đà Lạt.

Chiếu dụ ngày 11 tháng 10 năm 1920, ngày 31 tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Long ký Nghị định thành lập thị xã Đà Lạt [2]. Thị xã Đà Lạt là thị xã loại hai gồm có vùng nội ô và ngoại ô. Vùng ngoại ô gồm các làng mạc và đất đai nằm trên cao nguyên Lang Bian.

Phần đất còn lại của tỉnh Lang Bian mang tên tỉnh Đồng Nai Thượng gồm có 3 quận: B’lao, Djiring (Di Linh) và Dran.

Ngày 8 tháng 1 năm 1941, Toàn quyền Decoux ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian, thị trưởng Đà Lạt kiêm Tỉnh trưởng tỉnh Lang Bian.

Tháng 8 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời và Mặt trận Việt Minh tỉnh Lâm Viên và tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập.

Ngày 14 tháng 12 năm 1950, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ Nguyễn Duy Trinh ký Quyết định đề nghị sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 22 tháng 2 năm1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành Nghị định số 73-TTg hợp nhất 2 tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 19 tháng 5 năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Nghị định số 170-NV đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng và Sắc lệnh số 26-NV thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm có 2 quận B’lao, Di Linh, dời tỉnh lị từ Di Linh xuống B’lao (ngày 19 tháng 2 năm 1959 đổi tên thành Bảo Lộc). Tỉnh Tuyên Đức có 3 quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương, tỉnh lị đặt tại Đà Lạt. Riêng Đà lạt là đô thị trực thuộc Trung ương và sau này sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức trở thành một đơn vị hành chính: Đà Lạt- Tuyên Đức.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định Đà Lạt là thành phố trực thuộc Trung ương; sáp nhập các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận thành tỉnh Thuận Lâm, tỉnh lị đặt tại Phan Rang. Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định điều chỉnh lại việc hợp nhất một số tỉnh từ khu VI trở vào thành những tỉnh mới.

Tháng 2 năm 1976, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 14 tháng 3 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 116-CP chia huyện Bảo Lộc thành 2 huyện: Bảo Lộc, Đạ Huoai; chia huyện Đơn Dương thành 2 huyện: Đơn Dương, Lạc Dương.

Ngày 6 tháng 6 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 68-HĐBT chia huyện Đạ Huoai thành 3 huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 157- HĐBT sáp nhập vùng kinh tế mới Hà Nội vào huyện Đức Trọng, chia huyện Đức Trọng thành 2 huyện: Đức Trọng, Lâm Hà.

Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ ra Quyết định số 65-CP chia huyện Bảo Lộc thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.

Ngày 17 tháng 11 năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 189/2004/NĐ-CP  thành lập huyện Đam Rông.

Đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 tỉnh Lâm Đồng có thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và 10 huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Dân tộc, dân cư

Lâm Đồng là một tỉnh hỗn hợp dân cư, dân tộc. Hiện nay, toàn tỉnh có gần 40 dân tộc cư trú bao gồm các dân tộc bản địa như CơHo, Mạ, Churu, M’Nông, Raglai, STiêng…và các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc như Hoa, Tày, Nùng, Thái, Mường… Mỗi dân tộc có nguồn gốc, lịch sử định cư, trình độ phát triển kinh- tế xã hội, đặc điểm văn hoá khác nhau.

Các dân tộc thiểu số bản địa cư trú rải rác khắp các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa. Dân tộc CơHo tập trung nhiều ở Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương, Đam Rông. Dân tộc Mạ cư trú trong vùng thượng lưu sông Đồng Nai thuộc các huyện Đạ Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lâm. Dân tộc Chu Ru tập trung ở huyện Đơn Dương, Đức Trọng. Dân tộc M’Nông cư trú ở huyện Lâm Hà, Lạc Dương, Đam Rông. Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào năm 1954 tập trung chủ yếu ở Đức Trọng và số di dân tự do đến sau năm 1975 sống xen kẽ ở các địa bàn.

Trên 100 năm hình thành và phát triển, dân số Lâm Đồng tăng rất nhanh. Năm 1936 có 60.000 người, năm 1955 có 128.194 người, năm 1975 có 326.514 người, năm 1989 có 639.226 người và đến nay có trên 1.100.000 người, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 23%. Sự gia tăng dân số, chủ yếu là người kinh qua các đợt di cư gắn liền với những biến động lớn về chính trị- xã hội của đất nước.

Đợt di chuyển đầu tiên của người kinh bắt đầu khi Toàn quyền Pháp quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng. Người kinh được đưa đến Lâm Đồng để phục vụ việc mở đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai hoang lập đồn điền chè, cà phê, trồng rau.

Đợt di dân lớn thứ 2 diễn ra trong giai đoạn 1954- 1975. Đó là những đồng bào theo đạo công giáo và gia đình quân nhân bị dụ dỗ, cưỡng ép di dân vào Nam sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết. Những năm sau đó, do sự khủng bố, đàn áp của chính quyền Sài Gòn nên hàng chục ngàn đồng bào các tỉnh ven biển miền Trung đến tỉnh Lâm Đồng làm ăn sinh sống.

Đợt di dân lớn thứ 3 diễn ra từ năm 1975 đến nay với tốc độ khá nhanh. Động lực chính của cuộc di dân này là chiến lược điều chỉnh lao động, dân cư, phát triển kinh tế- xã hội vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sự gia tăng dân số chủ yếu bằng 2 nguồn: di dân theo kế hoạch và di dân tự do.

Lâm Đồng là một tỉnh nhiều thành phần dân tộc nhưng không có sự áp đặt giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số. Cư dân đến Lâm Đồng từ nhiều địa phương, nhiều vùng, nhiều thời kỳ khác nhau nhưng đã đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Mỗi địa phương, mỗi vùng đều có những nét văn hoá riêng nên khi đến sống xen cư, xen canh đã tạo nên một đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, khác với văn hoá truyền thống vùng đồng bằng Bắc bộ và miền Trung.

Một đặc điểm đáng lưu ý là cư dân đến Lâm Đồng trước năm 1975 phần lớn là người lao động, vì bị áp bức, bóc lột, không thể nào sống được ở quê nhà nên phải tha phương cầu thực. Họ rất cần cù lao động, chất phác, thật thà và có tinh thần đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Khi đến Lâm Đồng làm ăn, sinh sống họ đều mang theo truyền thống cách mạng của quê hương, thường xuyên liên lạc với quê nhà nên tin tức về phong trào cách mạng ở khắp nơi đều được thông tin đến kịp thời.

Mặt khác, cư dân ở Lâm Đồng trong các thời kỳ cách mạng cũng không ổn định, có người đến ở lại lâu dài, có người đến một thời gian lại đi nơi khác hoặc trở về quê cũ. Nguyên nhân của hiện tượng đó là do những biến động của tình hình chính trị, do công việc làm ăn hay tình cảm quyến luyến với quê hương. Hiện tượng đó có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào cách mạng ở Lâm Đồng vì một số cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng lúc đến, lúc đi, bị trục xuất hay đưa về quản thúc tại quê nhà.

Gắn liền với quá trình xâm lược, khai thác kinh tế của thực dân Pháp, ở Lâm Đồng đã xuất hiện 5 giai cấp: giai cấp tư sản thực dân; giai cấp tư sản Việt Nam; giai cấp tiểu tư sản; giai cấp công nhân và giai cấp nông dân.

Giai cấp tư sản thực dân hình thành từ khi có chính quyền thực dân Pháp ở Lâm Đồng và kinh doanh các ngành: công nghiệp, thầu xây dựng, thương nghiệp, dịch vụ (khách sạn), nông nghiệp (đồn điền chè, cà phê, chăn nuôi). Được chính quyền Pháp che chở, giai cấp tư sản thực dân không những bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động về mặt kinh tế mà còn áp bức về chính trị.

Giai cấp tư sản Việt Nam ở Lâm Đồng hình thành cuối những năm 20 của thế kỷ XX gồm một số nhà thầu, nhà buôn, chủ đồn điền nhỏ. Số lượng công nhân làm công cho tư sản Việt Nam không nhiều và mâu thuẫn giữa họ với giai cấp công nhân chưa gay gắt. Tuy bị thực dân Pháp chèn ép nên phát triển chậm và hay thua lỗ nhưng họ phản ứng yếu ớt.

Giai cấp tiểu tư sản ở Lâm Đồng gồm có tiểu thương, tiểu chủ, công chức, trí thức. Phần lớn giai cấp tiểu tư sản đều bị thực dân Pháp bóc lột, áp bức, chèn ép nên họ có tinh thần yêu nước, liên tục đấu tranh đòi giảm thuế, chống phạt vạ, tích cực tham gia phong trào Mặt trận dân chủ và cách mạng Tháng 8 năm 1945. Nhiều công chức, trí thức sau này đã trở thành cán bộ, đảng viên.

Giai cấp công nhân Lâm Đồng ra đời cùng một lúc với giai cấp tư sản thực dân Pháp và trước giai cấp tư sản Việt Nam ở Lâm Đồng. Giai cấp công nhân có số lượng tương đối đông nằm trong các ngành công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp và nông nghiệp (đồn điền). Họ bị chủ tư bản và chính quyền Pháp bóc lột về kinh tế và khinh miệt, áp bức về chính trị, nên đã đoàn kết đấu tranh đòi dân sinh dân chủ. Đặc biệt từ khi có Đảng cộng sản trực tiếp giáo dục và lãnh đạo thì ý thức giai cấp và tinh thần đấu tranh được tăng lên gấp bội.

Giai cấp nông dân Lâm Đồng hầu hết từ các địa phương khác đến làm ăn sinh sống. Họ là những người bị áp bức bóc lột, sưu cao thuế nặng nên đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Cũng như giai cấp công nhân, giai cấp nông dân Lâm Đồng có tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng và có quan hệ mật thiết với quê nhà. Vì vậy, từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi phong trào công nhân và phong trào yêu nước có chuyển biến mới, giai cấp nông dân Lâm Đồng đã trở thành một lực lượng cách mạng to lớn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

[1] Địa chí Lâm Đồng. Nhà xuất bản văn hoá dân tộc. Hà Nội, 2001, trang 16
[2] Địa chí Lâm Đồng. Nhà xuất bản văn hoá dân tộc. Hà Nội, 2001, trang 19.

 

Phần thứ nhất

CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN RA ĐỜI LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG VÀ CUỘC KHỞI NGHĨA THÁNG 8 NĂM 1945 Ở LÂM ĐỒNG (1930-1945)

I. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP TỔ CHỨC ĐẢNG

1. Trước khi có Đảng

Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiêu mộ người kinh từ các nơi khác đến Lâm Viên- Đồng Nai Thượng để khai thác kinh tế và xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng. Họ phải làm những công việc nặng nhọc như làm đường bộ, đường sắt, xây dựng nhà máy, khách sạn, khai hoang lập đồn điền… Người dân đến Lâm Đồng đều từ những nơi có truyền thống cách mạng, bị áp bức bóc lột nặng nề nên có tinh thần đoàn kết đấu tranh. Nhờ có mối liên hệ chặt chẽ với quê nhà nên phong trào cách mạng các nơi khác nhanh chóng ảnh hưởng và tác động đến Lâm Đồng.

Từ năm 1925 đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu và phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh được nhân dân hưởng ứng đã thức tỉnh tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân Lâm Đồng. Nhiều cuộc đấu tranh tự phát đã nổ ra ở các công trường, nhà máy, đồn điền.

Năm 1928, Đảng Tân Việt cách mạng, một tổ chức yêu nước đã có cơ sở ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và các tỉnh Nam Trung Kỳ[1]

Đầu năm 1929, đồng chí Trần Hữu Duyệt[2], cán bộ Đảng Tân Việt đến Đà Lạt thành lập chi bộ Tân Việt tại một căn nhà thuộc dãy “nhà thiếc” nay là nhà số 5A đường Hồ Tùng Mậu. Chi bộ có 3 đảng viên do đồng chí Trần Hữu Duyệt làm Bí thư. Chi bộ Tân Việt Đà Lạt trực thuộc Liên tỉnh Ngũ Trang, một cơ quan lãnh đạo của Đảng Tân Việt phụ trách các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

Ngay sau khi ra đời, chi bộ Đảng Tân Việt Đà Lạt đã tích cực tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng và xây dựng cơ sở trong công nhân, công chức, trí thức. Cuối năm 1929, chi bộ kết nạp thêm một số đảng viên. Từ đây, phong trào cách mạng Đà Lạt có bước chuyển biến mới.

2. Chi bộ Đảng Cộng sản ra đời

Ngày 3- 2- 1930, Đảng Cộng sảnViệt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Tháng 4 năm 1930, Liên tỉnh Ngũ Trang tổ chức Hội nghị ở Tân Mỹ (Ninh Thuận) để công bố việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở các tỉnh cực Nam. Theo chủ trương của Trung ương Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, khi giải thể các chi bộ Tân Việt để thành lập các chi bộ cộng sản phải thực hiện 3 biện pháp: Một là, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ tư tưởng cho đảng viên. Hai là, đưa đảng viên đi “vô sản hoá”. Ba là, chỉ chuyển những đảng viên có đủ tư cách sang chi bộ cộng sản.

Đồng chí Trần Hữu Duyệt, nguyên Bí thư Liên tỉnh Ngũ Trang được điều về làm Bí thư Tỉnh uỷ Khánh Hoà và tiếp tục chỉ đạo chi bộ Đà Lạt.

Trong tháng 4 năm 1930, sau khi dự Hội nghị ở Tân Mỹ về, đồng chí Trần Diệm[3] triệu tập Hội nghị để thực hiện quyết định việc giải thể chi bộ Tân Việt và thành lập chi bộ Cộng sản. Hội nghị được tổ chức trên tầng gác căn buồng số 2 nhà xe khách sạn Palace (Đà Lạt). Như vậy, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Lâm Viên được thành lập, gồm 3 đảng viên do đồng chí Trần Diệm làm Bí thư. Từ đây giai cấp công nhân Lâm Viên có tổ chức tiền phong, tổ chức cao nhất của giai cấp mình để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Từ khi chi bộ Đảng ra đời, ảnh hưởng của Đảng đã nhanh chóng lan rộng trong quần chúng, công tác xây dựng Đảng được tăng cường. Để tập hợp được lực lượng quần chúng, chi bộ tổ chức các Công hội đỏ trong công nhân nhà máy đèn, hãng thầu xây dựng, đồn điền, công nhân xe lửa và những người làm trong các hiệu may. Ở Trạm Bò (Xuân Thọ) thành lập hội Tương tế và một số hội Ái hữu đồng hương gồm những người cùng quê đến đây làm ăn, sinh sống. Ngoài ra còn có hội Phụ nữ, hội Phản đế đồng minh thu hút nhiều hội viên tham gia. Thông qua hoạt động của các tổ chức quần chúng, chi bộ đã từng bước tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng.

Đầu năm 1930, cuộc khủng khoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản đã có ảnh hưởng đến các ngành kinh tế ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Các hãng thầu của Pháp ngừng hoạt động, công nhân thất nghiệp nhiều. Trước tình hình đó, toàn thể công nhân xây dựng hãng Đờ-ra-ga (Dragage) ở Đà Lạt bãi công đòi chủ không được sa thải công nhân và không được giảm lương của những người còn có việc làm. Chính quyền thực dân Pháp không những không giải quyết đòi hỏi chính đáng của công nhân, mà còn bắt những người lãnh đạo cuộc bãi công và bắt ép công nhân đi làm. Toà án của thực dân Pháp kết tội 4 công nhân phá rối trật tự an toàn và kết án mỗi người 10 tháng tù. Cuộc bãi công tuy không giành được thắng lợi nhưng đã đánh dấu sự chuyển biến về ý thức, trình độ giác ngộ và có ảnh hưởng lớn về chính trị, tư tưởng trong giai cấp công nhân và nhân dân Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5, theo chỉ thị của cấp trên, chi bộ Đảng và các tổ chức quần chúng tổ chức nhiều hoạt động trong ngày lễ. Tối 30- 4-1930, cờ đỏ búa liềm được treo ở chợ Đà Lạt, Cầu Đất, nhiều truyền đơn xuất hiện trên các đường phố, khu vực Cầu Đất, Dran và dọc đường 11 từ Đà Lạt đến Cầu Đất. Truyền đơn có các khẩu hiệu:

  • Đánh đổ đế quốc phong kiến
  • Tịch thu rộng đất của thực dân, địa chủ chia cho dân cày.
  • Huỷ bỏ thuế chợ, thuế thân.
  • Thực hiện ngày làm 8 giờ
  • Nam nữ bình đẳng
  • Liên bang Xô Viết, thành trì của Cách mạng thhế giới muôn năm
  • Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm.

Sáng ngày 1-5, các tầng lớp nhân dân hân hoan đứng nhìn cờ đỏ búa liềm và đọc truyền đơn lượm được. Tin về cờ và truyền đơn của Đảng Cộng sản truyền đi rất nhanh trong tỉnh, nhất là ở các nhà máy, đồn điền. Những khẩu hiệu mà Đảng đưa ra đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của nhân dân ta và thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân lao động thế giới.

Tuy có chuẩn bị đối phó, nhưng thực dân Pháp không ngăn chặn được các hoạt động của ta. Chúng tức tối huy động lực lượng đi thu cờ, lượm truyền đơn, chặn đường khám xét và lùng bắt những người tình nghi nhưng không có kết quả.

Trên tuyến đường sắt Tháp Chàm- Đà Lạt, đường hầm Cầu Đất là một công trình lớn nhưng việc thi công rất rất chậm vì công việc nặng nhọc, khí hậu khắc nghiệt, lao động bằng thủ công, thiếu phương tiện bảo hộ lao động; công nhân lại bị chủ thầu, cai thầu, đốc công bóc lột thậm tệ bằng các hình thức cúp phạt, qụyt lương, trả công không đúng kỳ nên đời sống vô cùng khó khăn, nhiều người bị chết vì tai nạn lao động, bệnh tật. Ngày 4-5-1930, khi hầm đường bị sập làm nhiều người chết và bị thương, bọn chủ bắt công nhân bới đất tìm xác chết và chống đỡ chỗ bị sập. Không chịu được sự đối xử tàn nhẫn của bọn chủ, toàn thể công nhân trên công trường bãi công đòi cai thầu trả 3 tháng lương còn thiếu. Tên cai thầu hoảng sợ chạy trốn, công nhân tịch thu tài sản của nó chia cho những người đang gặp khó khăn. Sau đó công nhân chặn xe chủ hãng A-vi-a (Aviat) đòi trả lương thay cho tên cai thầu. Trước tinh thần đoàn kết và đấu tranh quyết liệt của công nhân, tên chủ hãng nhận trả cho công nhân một nửa số lương mà tên cai thầu còn thiếu. Cuộc bãi công đã giành được thắng lợi.

Nhằm nâng cao trình độ nhận thức và năng lực công tác của đảng viên, đồng chí Trần Hữu Duyệt phụ trách các tỉnh cực Nam Trung Bộ mở lớp học của Đảng ở Trạm Bò. Lớp học có 15 học viên ở các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Đà Lạt. Chương trình học gồm:

  • Lịch sử nhân loại
  • Cách mạng các nước
  • Các Quốc tế cộng sản
  • Con đường cách mạng
  • Sơ lược về chủ nghĩa Cộng sản

Phần lớn các học viên khi trở về địa phương đều trở thành cán bộ của Đảng, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.

Mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố ráo riết, nhưng chi bộ Đảng ở Đà Lạt vẫn tích cực hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển đảng viên. Đến cuối năm 1930, chi bộ kết nạp thêm 5 đảng viên mới và cấp trên điều động 3 đảng viên từ Ninh Thuận, Khánh Hoà lên, nâng tổng số đảng viên lên 11 đồng chí và chia làm 2 chi bộ: Chi bộ Palace có 5 đảng viên, do đồng chí Trần Diệm làm Bí thư, hoạt động trong công nhân khách sạn, nhà máy đèn, đường xe lửa. Chi bộ Cầu Quẹo có 6 đảng viên do đồng chí Nguyễn Sĩ Quế làm Bí thư, hoạt động trong công nhân xây dựng, thợ may.

Để duy trì các hoạt động của Đảng và tránh địch khủng bố, tổ chức Đảng ở Đà Lạt xây dựng 2 cơ quan bí mật: Cơ quan hoạt động và in ấn tại nhà ông Kiểm Tỵ đường Cầu Quẹo (nay là nhà số 221-223 đường Phan Đình Phùng- Đà Lạt). Cơ quan liên lạc và mở lớp học tại nhà một đảng viên ở cây số 12 (Trạm Bò- Xuân Thọ) trên đường 11.

Tổ chức Đảng và số đảng viên ở Đà Lạt tuy còn ít nhưng đều nằm trong các cơ sở kinh tế quan trọng như nhà máy đèn (nhà máy điện), khách sạn, hãng thầu xây dựng, đường xe lửa. Trong số 11 đảng viên có 8 đồng chí là công nhân nên việc tuyên truyền và giác ngộ cách mạng cho công nhân có nhiều thuận lợi.

Đầu năm 1931, hai chi bộ và các tổ chức quần chúng chuẩn bị truyền đơn để kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 với nội dung:

- Đánh đổ đế quốc phong kiến

- Phụ nữ sinh con được nghỉ 2 tháng có lương

- Bình đẳng nam nữ, lương ngang nhau giữa nam và nữ

- Vô sản toàn thế giới không phân biệt nam nữ đoàn kết lại.

Công việc đang được tiến hành khẩn trương thì đêm mùng 6 tháng 3 năm 1931, tên công sứ Pháp chỉ huy một toán lính đến bao vây cơ quan của Đảng ở đường Cầu Quẹo trong lúc chi bộ đang in truyền đơn. Chúng bắt đồng chí Nguyễn Sĩ Quế Bí thư chi bộ và 2 đảng viên, tịch thu dụng cụ in, truyền đơn, khẩu hiệu, tài liệu của Đảng. Những ngày sau đó địch tiếp tục truy lùng bắt một số đảng viên và 30 người bị tình nghi hoạt động cách mạng. Để tránh khủng bố, 3 đảng viên khác tạm lánh vào Sài Gòn, nhưng đến ngày 24 tháng 4 năm 1931 cũng bị địch bắt đưa về giam ở Đà Lạt. Tại các nhà tù của địch, những cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bị địch tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không một lời khai báo. Giữa năm 1931, thực dân Pháp lập toà án xét xử, đồng chí Trần Diệm bị kết án vắng mặt 10 năm khổ sai, 4 đồng chí khác bị phạt án tù và giam tại nhà lao Buôn Ma Thuột, sau khi mãn hạn tù địch đưa về quê quản thúc.

Như vậy, đến cuối tháng 4 năm 1931, tổ chức Đảng ở Đà Lạt không còn nữa, các tổ chức quần chúng ngừng hoạt động, phong trào công nhân và phong trào cách mạng tạm lắng. Trong những năm 1932- 1935 chỉ có một số cuộc đấu tranh lẻ tẻ, tự phát không tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia.

II. THỜI KỲ MẶT TRẬN DÂN CHỦ ĐÔNG DƯƠNG (1936-1939)

1. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lâm Viên - Đồng Nai Thượng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ

Trước nguy cơ phát xít và chiến tranh, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (tháng 7 năm 1935) đề ra mục tiêu trước mắt của phong trào Cộng sản thế giới là lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít, chống chiến tranh thế giới, giành dân chủ và bảo vệ hoà bình.

Ở Pháp, trong cuộc tổng tuyển cử tháng 4 năm 1936, Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi đã thực hiện một số cải cách dân chủ có lợi cho giai cấp công nhân Pháp, ảnh hưởng tốt đến tình hình Đông Dương.

Tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương lập Mặt trận thống nhất Dân chủ Đông Dương, chống phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo hoà bình. Về hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh, Trung ương Đảng chủ trương lợi dụng triệt để khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để tuyên truyền, tổ chức quần chúng, đồng thời củng cố và phát triển tổ chức bí mật của Đảng.

Ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng sau cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản (1929-1933), nền kinh tế bắt đầu phục hồi, nhiều công trình được xây dựng, đường xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt được hoàn thành, phát triển thêm nhiều đồn điền mới. Số lượng người kinh đến ngày càng đông nên thành phần xã hội có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng, xuất hiện một số tư sản Việt Nam, số tiểu thương, thợ thủ công đông hơn trước.

Lúc này tổ chức Đảng ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng vẫn chưa được khôi phục, nhưng tin tức về phong trào đầu tranh của các điạ phương trong cả nước và qua báo chí công khai của Đảng, phong trào Dân chủ Đông Dương đã có ảnh hưởng đến các tầng lớp nhân dân. Công nhân ở từng vùng đã đoàn kết cùng nhau đấu tranh để hưởng ứng phong trào chung.

Để phản đối chủ giảm lương, ngày 24 tháng 8 năm 1936, hơn 200 công nhân ở Sở thí nghiệm nông nghiệp Di Linh đình công. Cuộc đấu tranh kéo dài 1 tuần, mở đầu cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng thời kỳ 1936-1939.

Tại đồn điền chè Cầu Đất, bọn chủ thường cúp phạt và trả lương cho công nhân không đúng kỳ, nhiều người phải vay tiền của bọn cai ký. Ngày 14 tháng 2 năm 1936, hơn 500 công nhân đình công đưa yêu sách đòi chủ phải trả đủ lương và đúng kỳ. Chiều hôm đó yêu sách được chấp nhận, cuộc đình công thắng lợi nhanh chóng.

Ngày 2 tháng 1 năm 1937, trên 1.000 công nhân đồn điền chè Cầu Đất lại đình công đòi tăng lương. Để bảo vệ quyền lợi cho chủ đồn điền, tên công sứ Đà Lạt chỉ huy lực lượng đến đàn áp, tìm cách chia rẽ, uy hiếp công nhân. Sau hai ngày đình công, chúng chỉ bắt ép được một số công nhân đi làm, còn phần lớn công nhân vẫn tiếp tục đấu tranh, cuộc đình công kéo dài trong 5 ngày.

Như vậy, chỉ trong 19 ngày, công nhân đồn điền chè Cầu Đất đã có hai cuộc đình công lớn. Cuộc đình công sau có quy mô lớn hơn, yêu sách cao hơn cuộc đình công trước, chứng tỏ ý thức đấu tranh và tinh thần đoàn kết của công nhân ngày càng cao.

Ngày 26 tháng 2 năm 1937, công nhân làm ở công trường xây dựng nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Đà Lạt (nay là nhà thờ Chánh Toà) đình công đòi tăng lương. Trước tinh thần đấu tranh của công nhân, chủ hãng phải chấp nhận yêu sách. Thắng lợi đó đã tạo không khí phấn khởi trong công nhân xây dựng Đà Lạt.

Hưởng ứng cuộc đình công của ngành xe lửa, ngày 14 tháng 7 năm 1937, công nhân đoạn đường xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt đình công đưa yêu sách:

- Trả lại tiền lương bị giảm từ năm 1933 đến năm 1935 và tăng lương 15%.

- Thi hành luật lệ xã hội.

- Đau ốm nằm bệnh viện được trả lương.

- Bỏ lệ hai năm khám lại sức khoẻ một lần.

- Bỏ lệ cúp, phạt tiền lương

- Bảo hiểm, bồi thường tai nạn lao động.

- Cho lập nghiệp đoàn Hoả xa.

Cuộc đình công kéo dài 3 tuần làm cho tất cả các chuyến xe lửa Tháp Chàm- Đà Lạt ngừng hoạt động. Tuy những yêu sách đưa ra không được chấp nhận nhưng đã thể hiện ý chí đấu tranh và cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng.

Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản nhiều tờ báo công khai để tuyên truyền đường lối của Đảng, đưa tin hoạt động của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước, giai cấp công nhân Lâm Viên, Đồng Nai Thượng đã có sự chuyển biến ý thức. Học tập kinh nghiệm của những nới khác, một số công nhân tiên tiến ở Đà Lạt tự thành lập nhóm Tiến bộ. Đây là tổ chức nửa công khai hợp pháp, có điều lệ, nội quy do công nhân tự quản lý. Nhóm có 20 công nhân thợ mộc, thợ hồ, trong đó có những người đã tham gia phong trào đấu tranh của công nhân từ năm 1930. Nhóm do đồng chí Nguyễn Thái và đồng chí Nguyễn Phe (Nguyễn Văn Tấn) lãnh đạo. Mục đích công khai của nhóm là giúp nhau khi ốm đau, thất nghiệp, học văn hóa và đọc sách báo. Nhưng hoạt động bí mật của nhóm là giác ngộ tư tưởng cho anh em để làm nòng cốt cho phong trào. Hoạt động của nhóm Tiến bộ đã có tác dụng nâng cao tình cảm giai cấp, ý thức đấu tranh và tinh thần đoàn kết của anh em trong nhóm và công nhân xây dựng Đà Lạt.

Cuối năm 1937, sau khi ở tù từ Côn đảo về, đồng chí Hồ Nhã Tránh đến ĐàLạt mở hiệu sách Hồng Nhật, làm đại lý sách báo công khai của Đảng như: Lao Động, Nhánh lúa, Đời nay, Kinh tế, Tân văn, Thời báo, Dân mới và các loại sách báo của phong trào Mặt trận Dân chủ. Hiệu sách Hồng Nhật đã góp phần truyền bá tư tưởng và đường lối của Đảng Cộng Sản Đông Dương, tuyên truyền thành lập Mặt trận Dân chủ trong công nhân và nhân dân lao động.

Hưởng ứng phong trào Mặt trận dân chủ, đồng chí Hồ Nhã Tránh và đồng chí Chung Văn Năm cùng nhóm Tiến bộ tổ chức Hội thanh niên du lịch nhằm lợi dụng hình thức vui chơi giải trí để tập hợp thanh niên, tuyên truyền những tư tưởng của phong trào Mặt trận dân chủ. Hội có trên 100 hội viên, gồm nhiều thành phần khác nhau: Công nhân, thợ thủ công, tiểu thương, học sinh. Thông qua những cuộc đi chơi, tham quan các danh lam thắng cảnh, Hội tổ chức đọc sách báo, nói chuyện thời sự, có khi tổ chức mit tinh. Hội còn ủng hộ về tinh thần, vật chất cho phong trào đấu tranh và phong trào Hội Ái hữu ở Đà Lạt. Trong nhiều năm, Hội thanh niên du lịch đã góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và phong trào dân chủ trong các tầng lớp nhân dân.

Ngày 1 tháng 5 năm 1938, Hội thanh niên du lịch và nhóm Tiến bộ tổ chức cuộc mít tinh với 300 người tham dự tại khu rừng Cam Ly. Những người dự mít tinh được tuyên truyền ý nghĩa lịch sử ngày Quốc tế lao động, về sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đoàn kết đấu tranh giành lại những quyền lợi thiết thân của mình, trước mắt phải đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, thi hành các luật lệ lao động.

Sách báo của Đảng và những cuộc đấu tranh sôi nổi trong cả nước đã có ảnh hưởng đến giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong tỉnh. Lúc này đời sống của công nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, họ phải làm việc từ 10 giờ đến 11 giờ một ngày, lương không tăng nhưng giá cả tăng vọt. Vì vậy, đấu tranh đòi tăng lương giảm giờ làm đã trở thành yêu cầu cấp bách.

Để đáp ứng nguyện vọng đó, nhóm Tiến bộ đã vận động và lãnh đạo công nhân đấu tranh.Tháng 6 năm 1938, đại biểu công nhân các hãng thầu họp bàn kế hoạch và giao cho công nhân đang xây dựng Dinh nghỉ mát Toàn quyền Đông Dương (nay là Dinh 2 ở đường Trần Hưng Đạo – Đà Lạt), thuộc hãng thầu Xidéc (S.I.D.E.C) mở đầu cuộc đấu tranh. Công tác chuẩn bị đang được tiến hành thì bị chủ hãng phát hiện. Đồng chí Nguyễn Thái, người lãnh đạo công nhân ở công trường bị đuổi việc. Ngày hôm sau cảnh sát Đà Lạt bắt đồng chí Nguyễn Thái cùng hai người khác nên công nhân ở công trường và công nhân xây dựng ở Đà Lạt rất phẫn nộ. Những người còn lại trong nhóm Tiến bộ do đồng chí Nguyễn Phe phụ trách phát động cuộc đình công.

Sáng 27 tháng 6 năm 1938, hơn 200 công nhân hãng Xidéc đình công đưa yêu sách:

- Tăng lương 30%.

- Ngày làm 8 giờ.

- Không được đuổi thợ vô cớ và thả 3 công nhân bị bắt.

Sáng hôm đó, trên 1.000 công nhân xây dựng Đà Lạt và công nhân hãng Xidéc biểu tình trước Dinh Quản đạo và đồn cảnh sát đòi giải quyết yêu sách. Trước khí thế đấu tranh của công nhân, cảnh sát phải thả 3 công nhân. Sau 4 ngày đình công, tên công sứ Đà Lạt và chủ hãng điều đình với đại biểu công nhân, chúng nhận tăng lương 10% và làm việc 9 giờ một ngày, nhưng đại biểu công nhân không chấp nhận, đòi phải thực hiện đầy đủ các yêu sách nên cuộc điều đình thất bại.

Công nhân hãng Xidéc tiếp tục nghỉ việc, chủ hãng định lấy công nhân nơi khác đến thay thế, nhưng âm mưu này không thực hiện được. Sau hơn 1 tháng đình công, do quỹ cứu tế đã hết nên một số công nhân đi làm lại, một số bỏ đi tìm việc làm ở nơi khác. Tuy cuộc đình công không giành được thắng lợi hoàn toàn, nhưng công nhân của hãng và toàn ngành xây dựng Đà Lạt đều được tăng lương từ 10% - 20% và làm việc 9 giờ một ngày.

Trong thời gian nổ ra cuộc đình công, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt và Hội thanh niên du lịch tích cực quyên góp cho quỹ cứu tế đình công và cổ vũ tinh thần đấu tranh của công nhân.

Hưởng ứng cuộc đình công ở hãng Xidéc, ngày 3 tháng 9 năm 1938, hơn 1900 công nhân đồn điền chè, công nhân xe lửa và các xưởng cưa ở Cầu Đất đình công đòi tăng lương. Đây là cuộc đình công có quy mô lớn nhất của giai cấp công nhân Lâm Viên - Đồng Nai Thượng thời kỳ này.

Giữa tháng 11 năm 1938, trong cuộc đua xe đạp quanh bờ hồ Đà Lạt, anh Lê Văn Thắm bị xe con của bà Rốc-si (người Pháp) cán chết. Được tin này Hội Thanh niên du lịch và nhóm Tiến bộ vận động nhân dân biến đám tang thành một cuộc biểu tình phản đối sự khinh miệt dân tộc, coi rẻ tính mạng người Việt Nam của thực dân Pháp, gần 2.000 người dự biểu tình đòi chính quyền thực dân Pháp phải xử phạt kẻ gây ra tai nạn và bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Thắm.

Trong quá trình khai thác kinh tế ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, thực dân Pháp đã cướp đất của đồng bào các dân tộc thiểu số để lập đồn điền, bắt đồng bào đi xâu làm công không cho bọn chủ. Một số người làm rẫy không đủ sống phải đi làm thuê trong các đồn điền nhưng lại bị trả công rẻ mạt. Không chịu nổi cảnh đói khổ, áp bức, giữa năm 1937, đồng bào các dân tộc thiểu số đã đứng lên chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của hai thủ lĩnh K’Voai và K’Nhòi, một phụ nữ trẻ tuổi, có nước da trắng, tóc trắng được nhân dân gọi là Mộ Cộ (bà trắng). Phong trào bắt đầu từ Đồng Đò (Di Linh) sau đó phát triển đến hầu hết các huyện trong tỉnh, thu hút gần 10.000 người tham gia.

Tháng 5 năm 1938, giữa lúc phong trào đang phát triển mạnh thì bị thực dân Pháp phát hiện, bắt giam và tra khảo nhiều người, trong đó có 2 thủ lĩnh của phong trào. Ngày 13 tháng 12 năm 1938, chúng lập toà án tại Di Linh kết tội 14 người âm mưu làm loạn chống lại chính quyền Pháp và kết án họ từ 8-20 năm tù, trong đó có K’Voai và K’Nhòi bị kết án mỗi người 20 năm khổ sai, K’Voai bị giam ở Lao Bảo, K’Nhòi bị giam ở Huế.

Phong trào Mộ Cộ tuy thất bại nhưng đã có ảnh hưởng rất lớn trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

2. Tổ chức Đảng được khôi phục

Được sự phân công của Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Bộ, đồng chí Nguyễn Văn Chi đến Đà Lạt liên lạc với nhóm Tiến bộ, Hội Thanh niên du lịch và tìm hiểu phong trào công nhân. Tháng 12 năm 1938, đồng chí Nguyễn Văn Chi triệu tập cuộc họp trên sân cỏ trường tiểu học Pháp- Việt (nay là trường Đoàn Thị Điểm) gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Thái, Nguyễn Phe và Trần Công Xứng (bí danh Hải) Bí thư Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Kỳ. Sau khi thảo luận điều lệ Đảng, tình hình và chủ trương công tác sắp tới, hội nghị nhất trí thành lập chi bộ gồm 3 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Chi làm Bí thư. Như vậy, sau hơn 7 năm bị gián đoạn, tổ chức Đảng ở Đà Lạt lại được khôi phục để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương.

Nhiệm vụ trước mắt của chi bộ là tiếp tục duy trì và phát triển các tổ chức quần chúng nửa công khai, hợp pháp như nhóm Tiến bộ, Hội Thanh niên du lịch, tổ chức các Hội Ái hữu trong công nhân, tích cực tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, phát triển đảng viên và mở rộng phong trào cách mạng ra các địa bàn khác trong tỉnh.

Từ khi có chi bộ Đảng trực tiếp lãnh đạo, phong trào cách mạng ở Đà Lạt có bước phát triển mới, công tác tuyên truyền, vận động công nhân chuẩn bị thành lập các Hội Ái hữu được tiến hành khẩn trương. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, chi bộ đã bồi dưỡng kết nạp hai đảng viên mới và tuyên truyền được một số người có cảm tình với Đảng.

Đầu năm 1939, cảnh sát Đà Lạt không cho họp chợ cả ngày, không chịu cảnh ngăn cấm vô lý, 500 chị em buôn bán ở chợ đã bãi thị 2 ngày đòi huỷ bỏ quyết định đó. Chị em cử đại biểu đưa yêu sách và vận động nhân dân ủng hộ cuộc đấu tranh. Cuối cùng chính quyền địch phải chấp nhận yêu sách, cuộc bãi thị thắng lợi.

Hưởng ứng chủ trương của Đảng, đầu năm 1939, một số trí thức và giáo viên các trường tiểu học ở Đà Lạt thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. Đây là một hoạt động văn hoá xã hội được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Tại các lớp học, học viên được học văn hoá và nghe đọc sách báo nên được biết thêm về phong trào cách mạng trong nước và tình hình thế giới.

Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5, chi bộ tổ chức mít tinh tại một khu rừng ở Cam Ly. Cuộc mít tinh có trên 100 người dự, gồm các đảng viên trong chi bộ, lãnh đạo Hội Thanh niên du lịch, nhóm Tiến bộ và nhiều công nhân trong các ngành nghề. Sau khi nói về ý nghĩa ngày Quốc tế lao động, ban tổ chức dành nhiều thời gian nhấn mạnh về sự cần thiết của các Hội Ái hữu và kêu gọi mọi người tham gia phong trào ái hữu sắp tổ chức ở Đà Lạt

Sau một thời gian chuẩn bị, giữa năm 1939, Ban vận động Hội Ái hữu được thành lập do đồng chí Nguyễn Phe làm trưởng ban, một số anh chị em công nhân được phân công phụ trách các ngành nghề. Qua thực tế phong trào công nhân, ban vận động quyết định thành lập Hội Ái hữu thợ mộc trước, sau đó sẽ mở rộng ra các ngành khác. Công tác chuẩn bị đang được tiến hành khẩn trương thì thực dân Pháp ra lệnh ngăn cấm vì chúng nghi Hội do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Tháng 8 năm 1939, Ban cán sự Đảng các tỉnh Nam Trung Kỳ điều đồng chí Nguyễn Văn Chi về công tác ở Khánh Hoà, đồng chí Nguyễn Thái chuyển đi Sài Gòn, chi bộ còn lại 3 đảng viên, đồng chí Nguyễn Phe được cử làm Bí thư.

Từ khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố phong trào cách mạng nước ta. Chúng đóng cửa hàng chục tờ báo của Đảng, ráo riết lùng sục, khám xét và bắt người hàng loạt. Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bắt công nhân làm việc một tuần 60 giờ và cấm thành lập các Hội Ái hữu.

Ngày 7 tháng 10 năm 1939, thực dân Pháp bắt đầu đàn áp phong trào cách mạng ở Đà Lạt, các đồng chí Hồ Nhã Tránh, Chung Văn Năm bị bắt. Được từ đó, chi bộ họp bàn kế hoạch chống khủng bố và quyết định chuyển hình thức hoạt động công khai và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, cất dấu tài liệu. Sau đó đồng chí Nguyễn Phe và một số đồng chí khác trong nhóm Tiến bộ bị bắt.

Từ cuối tháng 10 tháng 1939, chi bộ Đảng ở Đà Lạt không còn nữa, các tổ chức quần chúng ngừng hoạt động.

Sau 4 năm thực hiện đường lối Mặt trận Dân chủ, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lâm Viên, Đồng Nai Thượng đã tiến hành 17 cuộc đấu tranh, thu hút trên 10.000 lượt người tham gia; thành lập 5 tổ chức quần chúng với trên 500 hội viên. Phần lớn các cuộc đấu tranh đã chuyển từ đấu tranh kinh tế lên đấu tranh chính trị. Thành quả quý báu nhất là qua thực tiễn đấu tranh giai cấp công nhân đã trưởng thành, có tinh thần đoàn kết, tin tưởng vào sức mạnh của mình và lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.

III. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

1. Chuẩn bị lực lượng đón thời cơ

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Tháng 6 năm 1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, nhân cơ hội đó phát xít Nhật nhảy vào xâm lược Đông Dương. Nhân dân ta lại bị một cổ hai tròng dưới sự áp bức bóc lột của Nhật-Pháp.

Lo sợ trước tình hình chiến tranh ngày càng mở rộng và vì đường đi châu Âu tắc nghẽn nên thực dân Pháp có ý đồ xây dựng Đà Lạt thành thủ đô chính trị của Đông Dương. Số người Pháp lên Đà Lạt ngày càng đông, nhiều công trình lớn và hàng trăm biệt thự được xây dựng. Để lôi kéo và đầu độc thanh niên, thực dân Pháp tổ chức phong trào thể dục thể thao (còn gọi là phong trào Đu-co-roay).

Tháng 4 năm 1940, đồng chí Nguyễn Phe mãn hạn tù và trở về Đà Lạt hoạt động. Đồng chí đã củng cố nhóm Tiến bộ, liên lạc với những người đã từng tham gia cách mạng và thành lập Ban cán sự Đảng gồm 3 đồng chí. Công việc đang tiến hành khẩn trương thì tháng 7 năm 1940 đồng chí lại bị bắt và giam ở nhà lao Nha Trang, Ban cán sự ngừng hoạt động.

Tháng 8 năm 1940, đồng chí Hoàng Kim Ảnh từ Hội An (Quảng Nam) vào Đà Lạt bắt liên lạc với số anh em còn lại trong nhóm Tiến bộ và tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho một số công nhân. Đồng chí Hồ Đắc Bật từ Sài Gòn lên Đà Lạt liên lạc với đồng chí Hoàng Kim Ảnh để truyền đạt đường lối của Mặt trận phản đế[4] và cùng nhau thành lập Uỷ ban Mặt trận phản đế Đà Lạt. Uỷ ban đã tuyên truyền, vận động được nhiều công nhân tham gia Mặt trận, nhưng sau đó đồng chí Hồ Đắc Bật bị địch bắt đưa về Sài Gòn. Tháng 2 năm 1941, đồng chí Hoàng Kim Ảnh trở về Quảng Nam nên Uỷ ban Mặt trận phản đế Đà Lạt ngừng hoạt động.

Để tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng Đà Lạt, ngày 24 tháng 2 năm 1942, tại bãi biển Hội An, đồng chí Trương Văn Hoàn thay mặt Xứ uỷ Trung kỳ thành lập chi bộ đặc biệt Đà Lạt gồm 3 đồng chí: Võ Văn Đặng, Trần Duy Mãi và Huỳnh Đắc Hương, do đồng chí Võ Văn Đặng làm Bí thư.

Trở lại Đà Lạt hoạt động, 3 đồng chí mang theo nhiều tài liệu, truyền đơn và từng bước gây dựng lại phong trào. Kế hoạch công tác đang được triển khai thì cơ sở cách mạng ở Quảng Nam bị vỡ, tháng 6 năm 1942 thực dân Pháp truy nã và bắt 2 đồng chí Võ Văn Đặng, Huỳnh Đắc Hương đưa về Quảng Nam. Sau đó không lâu, đồng chí Trần Duy Mãi cũng trở về quê, chi bộ Đảng ở Đà Lạt tan rã.

Trong những tháng đầu năm 1942, thực dân Pháp khủng bố phong trào cách mạng các tỉnh miền Trung rất ác liệt, nhiều đồng chí cán bộ Xứ uỷ Trung kỳ và các tỉnh bị bắt, một số tạm chuyển vùng hoạt động để bắt liên lạc với cấp trên. Giữa năm 1942, đồng chí Võ Chí Công[5], cán bộ Xứ uỷ Trung kỳ vào hoạt động ở khu vực Cầu Đất. Sau 1 tháng sống cùng với những gia đình công nhân làm nghề cưa xẻ gỗ, đồng chí đã tuyên truyền giác ngộ cách mạng và xây dựng được 20 cơ sở, phần lớn sau này đều trở thành cán bộ, đảng viên.

Năm 1943, một số đảng viên từng tham gia hoạt động cách mạng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá đến Đà lạt sinh sống đã bí mật liên lạc với nhau và thành lập chi bộ gồm 4 đảng viên do đồng chí Đinh Quế làm Bí thư. Chi bộ đã tích cực giác ngộ, tuyên truyền cách mạng cho công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ để làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh.

Tuy chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng, nhưng từ năm 1941 đến đầu năm 1945 đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân ở các đồn điền, công sở, gây thiệt hại cho bọn chủ. Nhìn chung, các cuộc đấu tranh tuy vẫn còn mang tính tự phát, chưa thu hút được đông đảo lực lượng tham gia, nhưng đã phản ánh một quy luật tất yếu: có áp bức, có đấu tranh. Nhân dân các dân tộc Lâm Viên - Đồng Nai Thượng không thể chịu đựng mãi cảnh bị bọn thực dân, phong kiến áp bức bóc lột mà phải đứng lên đấu tranh tự giải phóng cho mình.

2. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Đầu năm 1945, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng, Hồng quân đã đánh đuổi phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ Liên Xô. Ở châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật liên tục bại trận. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.

Tại Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Nhật bắt hàng trăm quan chức, kiều dân Pháp giam tại cư xá Đờ-cu (Decoux), cư xá Bên - lơ - vuy (Bellevue) ở Đà Lạt và khách sạn Min-lo-voay (Minllevoye) ở Di Linh.

Về chính trị, Nhật tuyên truyền thuyết “ Đại Đông Á” ; thuyết “Đồng chủng da vàng”, đề cao công ơn của Nhật đã cho Việt Nam “độc lập”. Tổ chức thanh niên bảo an đoàn được thành lập trên cơ sở tập hợp thanh niên trong phong trào Đu- co-roay và tổ chức thanh niên Hướng đạo sinh.

Sau khi chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng được thành lập, tổ chức thanh niên tiền tuyến ra đời (còn gọi là thanh niên Phan Anh) đã thu hút đông đảo lực lượng thanh niên tham gia.

Về quân sự, với ý đồ đưa Bộ chỉ huy quân đội Nhật ở Thái Bình Dương lên Đà Lạt để cố thủ đến cùng nên ngoài 2000 lính Nhật tại chỗ, chúng còn ráo riết bắt xâu, bắt lính, xây dựng các công trình quân sự, bảo vệ chặt chẽ sân bay Liên Khàng.

Về kinh tế, Nhật nắm ngân hàng và những công sở quan trọng, cho phép các công ty của Nhật khai thác nhựa thông, gỗ thông. Mặt khác chúng ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân dân ta bằng các loại xâu, thuế.

Trước những đổi thay nhanh chóng của tình hình thế giới, cao trào kháng Nhật ngày càng lên cao, Mặt trận Việt Minh phát triển khắp nơi đã có ảnh hưởng đến đời sống chính trị ở hai tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Ở một số đồn điền, công nhân đấu tranh chống lại bọn chủ, bọn đốc công, đốt phá đồn điền rồi bỏ về quê. Đồng bào các dân tộc thiểu sổ ở một số nơi không chịu nộp thuế, đi xâu cho bọn Nhật. Chi bộ Đảng ở Đà Lạt thành lập thêm một chi bộ ở nhà ga gồm 3 đảng viên do đồng chí Đinh Quế làm Bí thư, đồng thời cử đồng chí Chung Văn Năm đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Nam Kỳ và đồng chí Đinh Quế đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Trung Kỳ nhưng không có kết quả.

Lúc này, tổ chức thanh niên Phan Anh đã tập hợp được đông đảo thanh niên tham gia bằng các hình thức luyện tập thể dục thể thao, biểu diễn văn nghệ, hoạt động xã hội, từ thiện. Từ những buổi cắm trại, sinh hoạt dã ngoại, chương trình văn nghệ có nội dung yêu nước (như các vở kịch Hội nghị Diên Hồng, Hai Bà Trưng), phổ biến các bài hát tiến bộ đến việc tổ chức các lớp truyền bá quốc ngữ; không nói với nhau bằng tiếng Pháp và chống tiêu dùng, mua bán hàng hoá do Pháp sản xuất; quyên góp tiền ủng hộ đồng bào miền Bắc bị đói đã từng bước nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước thương dân trong đại đa số thanh niên và có ảnh hưởng lớn trong các tầng lớp nhân dân .

Lợi dụng các hình thức hoạt động công khai hợp pháp của thanh niên, các chi bộ Đảng ở Đà Lạt đã tổ chức mít tinh vạch trần thuyết Đại Đông Á, chiêu bài độc lập giả hiệu của Nhật và vận động các tầng lớp nhân dân không dự cuộc mít tinh do Nhật tổ chức tại sân vận động.

Tháng 4 năm 1945, chính trị phạm ở nhà lao Buôn Ma Thuột đấu tranh thắng lợi, Nhật buộc phải thả hết tù chính trị. Tổ chức Đảng trong nhà lao phân công đảng viên về các tỉnh hoạt động cách mạng. Đồng chí Ngô Huy Diễn và đồng chí Nguyễn Thế Tính được phân công về Đà Lạt xây dựng cơ sở, thành lập các tổ chức quần chúng để tập hợp lực lượng, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Về đến Đà Lạt, hai đồng chí đã khẩn trương bắt liên lạc với các đảng viên của hai chi bộ, tuyên truyền xây dựng thêm nhiều cơ sở cách mạng, phân phát chương trình, điều lệ Việt Minh, thư đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào và tài liệu về phong trào du kích Ba Tơ (Quảng Ngãi).

Sau một thời gian tuyên truyền, vận động, tháng 5 năm 1945, Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt được thành lập do đồng chí Nguyễn Thế Tính làm thư ký. Cùng thời gian này, đồng chí Ngô Huy Diễn cũng thành lập Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời tỉnh Lâm Viên do đồng chí làm thư ký. Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt và Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời tỉnh Lâm Viên đã đề ra chương trình công tác, tổ chức các đoàn thể quần chúng như Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Để tranh thủ nắm lực lượng thanh niên, các chi bộ bố trí một số đảng viên, thanh niên tiến bộ vào hoạt động và nắm những cương vị chủ chốt trong tổ chức đoàn thanh niên Phan Anh. Thông qua hoạt động của đoàn thanh niên, ta đã từng bước tuyên truyền đường lối của Đảng, ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh, vận động thanh niên không đi lính cho Nhật.

Cuối tháng 6 năm 1945, các đồng chí Lê Tự Nhiên đại biểu tỉnh Ninh Thuận, Ngô Huy Diễn đại biểu tỉnh Lâm Viên, Nguyễn Sắc Kim đại biểu tỉnh Bình Thuận họp tại cánh đồng Vạn Phước (Ninh Thuận) bàn kế hoạch vận động quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa, thành lập Ban liên lạc ba tỉnh Cực Nam để chỉ đạo cách mạng và cử đồng chí Lê Tự Nhiên đi bắt liên lạc với Xứ uỷ Trung Kỳ.

Sau khi ở Ninh Thuận về, do có người phản bội khai báo nên các đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính, Đinh Quế, Chung Văn Năm và một số đồng chí trong tổ chức Việt Minh bị Nhật bắt. Hiến binh Nhật và bọn tay sai tra tấn các đồng chí rất dã man nhưng vẫn không khai thác được gì. Khoảng một tháng sau hầu hết những người bị bắt được trả tự do, chỉ còn lại hai đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính vẫn bị giam tại nhà lao Đà Lạt.

Tại B'Lao (Bảo Lộc), tổ chức thanh niên Phan Anh đã tập hợp đông đảo công chức, thanh niên trong các công sở, nhà máy, đồn điền, trong đó có thanh niên dân tộc thiểu số tham gia. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1945, một số công chức, thanh niên tiến bộ đã bí mật tuyên truyền về hoạt động và ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh.

Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và chỉ trong mấy ngày hồng quân đã tiêu diệt hoàn toàn đội quân Quan Đông tinh nhuệ nhất của Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Trước tình hình đó, ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào khẳng định: những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi và chủ trương kịp thời lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Hội nghị đã bầu Uỷ ban Dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đêm 13 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban hành lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện Hồng quân Liên Xô và quân đồng minh, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Tại Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, quân Nhật tuy còn đông nhưng tinh thần hoang mang cực độ, chán nản, chờ ngày về nước, các công trình quân sự đang xây dựng đều bỏ dở.

Tin tức về một số địa phương trong nước khởi nghĩa thắng lợi đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của nhân dân các dân tộc hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Một số cán bộ, đảng viên và những công chức, trí thức quan tâm đến thời cuộc thường gặp nhau trao đổi tình hình nhưng cũng chưa biết hoạt động như thế nào? Trong khi quân Nhật và chính quyền tay sai đang hoang mang, dao động, những cán bộ nòng cốt trong phong trào thanh niên đã vận động, thuyết phục những người trước đây đi lính cho Pháp (sau khi Nhật đảo chính Pháp bỏ về gia nhập thanh niên) huấn luyện quân sự cho thanh niên. Từ đầu tháng 8 năm 1945, thanh niên Đà Lạt đã hình thành từng trung đội, tiểu đội dưới hình thức cắm trại để tiến hành huấn luyện quân sự, trinh sát, canh gác. Mỗi người tự trang bị cho mình một loại vũ khí như kiếm, dao găm…sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

Mặc dù các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Lâm Viên còn bị địch giam giữ và đồng chí Phạm Khắc Quán còn xuống Nha Trang bắt liên lạc với cấp trên, nhưng ở một số địa bàn công tác chuẩn bị khởi nghĩa vẫn được tiến hành khẩn trương.

Tại Đà Lạt, các đồng chí đảng viên, cán bộ cốt cán và một số công chức tiến bộ họp bàn kế hoạch, thành lập Uỷ ban khởi nghĩa gồm 14 người. Đồng chí Nghiêm Xuân Cúc (một đảng viên ở chi bộ ga Đà Lạt đã chuyển về ga Nha Trang) giới thiệu đồng chí Phạm Khắc Quán với Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Khánh Hoà, sau khi nghe báo cáo tình hình, đồng chí Bùi San đã cử đồng chí Trương Văn Hoàn cùng 3 cán bộ lên giúp tỉnh Lâm Viên khởi nghĩa.

Đêm 21 tháng 8 năm 1945, hội nghị bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền được tổ chức với sự tham gia của các đồng chí Trương Văn Hoàn, Đinh Quế, Phan Đức Huy, Phạm Khắc Quán, một số đảng viên, cơ sở nòng cốt, công chức có cảm tình với cách mạng. Đồng chí Trương Văn Hoàn đã trao đổi về phương hướng, chủ trương và phương pháp vận động, tổ chức nhân dân tiến hành khởi nghĩa. Hội nghị nhất trí đánh giá tình hình, chủ trương và kế họạch khởi nghĩa, thành lập Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Phan Đức Huy làm Chủ tịch, các đồng chí Đinh Quế, Trương Văn Hoàn, Phạm Khắc Quán, Nghiêm Nghị làm Uỷ viên và quyết định lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 23 tháng 8 năm 1945. Hội nghị phân công cán bộ, đảng viên, cơ sở cốt cán xuống các địa bàn phổ biến kế hoạch, tổ chức lực lượng, may cờ, viết khẩu hiệu, sắm vũ khí…Đồng chí Phan Đức Huy và đồng chí Phạm Khắc Quán được phân công đến gặp sĩ quan chỉ huy quân đội Nhật tại Đà Lạt yêu cầu quân đội án binh bất động trong những ngày khởi nghĩa. Đồng chí Chu Oai được cử đến dinh Tỉnh trưởng thuyết phục Ưng An giao chính quyền cho cách mạng. Đồng chí Nghiêm Nghị được phân công đến đồn bảo an thuyết phục đồn trưởng Quản Trang và binh lính giao đồn. Trong ngày 22 tháng 8, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt đem hết sức mình chạy đua với thời gian để hoàn thành công việc chuẩn bị khởi nghĩa.

Tại Dran, sau ngày Nhật đầu hàng quân đồng minh, quân nhật tại đây ít hoạt động, thái độ lưng chừng, chán nản. Nhân cơ hội đó, lực lượng thanh niên hoạt động mạnh, tranh thủ được đồn trưởng Nguyễn Nhật Thăng và một số binh lính đồn bảo an làm huấn luyện quân sự. Những cơ sở cốt cán trong thanh niên, công nhân, thợ thủ công, công chức, binh lính…tích cực tuyên truyền , vận động nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Khi được tin một số nơi giành chính quyền thắng lợi, ban vận động khởi nghĩa tại Dran được thành lập gồm 5 người do đồng chí Lê Quang Liệu làm trưởng ban, đồng chí Lê Văn Uẩn phó ban và ba đồng chí uỷ viên. Các đồng chí trong ban vận động khởi nghĩa và một số cơ sở cốt cán đã tiến hành hai cuộc hội nghị để bàn kế hoạch kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người và quyết định khởi nghĩa giành chính quyền vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8 năm 1945.

Tại Cầu Đất-Trạm Hành, một vùng có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng của tỉnh Đồng Nai Thượng như đồn điền trà, các cơ sở khai thác và chế biến gỗ, xưởng sửa chữa và ga xe lửa, tập trung đông công nhân, có truyền thống đấu tranh cách mạnh trong những năm 1930 - 1931 và 1936 -1939. Trong những ngày sôi sục tổng khởi nghĩa, đồng chí Trịnh Lý đã cùng một số đảng viên[6], cơ sở cốt cán tích cực tuyên truyền, vận động công nhân thanh niên và nhân dân địa phương chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tối ngày 21 tháng 8 năm 1945, đồng chí Trịnh Lý đã triệu tập cuộc họp tại Trạm Hành để bàn kế hoạch khởi nghĩa. Sau khi đánh giá tình hình và nhất trí về chủ trương, kế hoạch tiến hành, hội nghị quyết định lãnh đạo nhân dân giành chính quyền vào ngày 22 tháng 8 năm 1945 và phân công nhiệm vụ cho từng đồng chí:

- Các đồng chí Trịnh Lý, Lê Trực, Nguyễn Ngự chịu trách nhiệm chung.

- Đồng chí Trần Luân và đồng chí Trịnh Lý phụ trách Cầu Đất.

- Đồng chí Nguyễn Ngự giúp đồng chí Lê Quang Liệu ở Dran.

- Đồng chí Lê Trực và đồng chí Trần Diêu phụ trách Trạm Hành, xưởng sửa chữa và nhà ga xe lửa ở Trạm Hành.

Sáng ngày 22 tháng 8 năm 1945, đồng chí Trịnh Lý về Cầu Đất cùng với đồng chí Trần Luân vận động nhân dân và công nhân đồn điền, hoả xa khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng chí còn đích thân vào đồn bảo an thuyết phục đội Nghĩa giao đồn và giao lại cho cách mạng 6 khẩu súng . Khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người tập trung tại sân vận động nghe đồng chí Trịnh Lý tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ của địch, thành lập chính quyền cách mạng do đồng chí Trần Luân làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đình Túc làm thư ký. Những người dự mít tinh vô cùng phấn khởi, lần đầu tiên chính quyền thực sự đã về tay nhân dân.

Tại Trạm Hành, các đồng chí đảng viên, cán bộ cốt cán đã vận động nhân dân, công nhân hoả xa biểu tình buộc lý trưởng nộp con dấu. Trưa ngày 22 tháng 8 năm 1945, các tầng lớp nhân dân tập trung dự mít tinh, các đồng chí lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tuyên bố xoá bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng do đồng chí Nguyễn Đình Lịch làm Chủ tịch, ông Hồ Văn Liên làm thư ký; thành lập đội tự vệ gồm 13 người do ông Trịnh Cửu chỉ huy.

Sau khi giành chính quyền ở Cầu Đất, Trạm Hành thắng lợi, chiều 22 tháng 8 đồng chí Trịnh Lý cùng một số cán bộ, đảng viên và đội tự vệ xuống phối hợp với nhân dân Dran giành chính quyền.

Tại Dran, công việc chuẩn bị khởi nghĩa vẫn theo đúng kế hoạch, 15 giờ ngày 22 tháng 8, khi đồn trưởng đồn bảo an báo lại là bang tá quận Dran sẽ không giao đồn khi chưa có lệnh của tỉnh trưởng, nên Ban vận động khởi nghĩa đã cương quyết hành động theo kế hoạch đã định.

Như thường lệ, chiều ngày 22 tháng 8 thanh niên tập trung luyện tập thể dục thể thao, huấn luyện quân sự và sẵn sàng chờ lệnh. Đúng 17 giờ 30 phút, đồng chí Lê Quang Liệu chỉ huy lực lượng thanh niên xông vào chiếm đồn, thu vũ khí. Tại đồn bảo an, đồng chí Lê Quang Liệu thay mặt ban vận động tuyên bố Việt Minh đã giành chính quyền thắng lợi. Cùng thời gian đó, đồng chí Lê Văn Uẩn chỉ huy một lực lượng đến nhà bang tá Hoàng Hữu Thế thu con dấu, sổ sách giấy tờ. Lúc này đoàn của đồng chí Trịnh Lý cũng vừa xuống Dran và cùng phối hợp giải quyết những công việc tiếp theo.

Tối 22 tháng 8, đoàn của đồng chí Trịnh Lý và Ban vận động khởi nghĩa cùng một số cơ sở cốt cán ở Dran hội ý bàn kế hoạch đi Di Linh và lễ ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời cùng Uỷ ban Việt Minh huyện Dran vào ngày 23 tháng 8.

Ngay trong đêm 22 tháng 8, đồng chí Trịnh Lý cùng một số cán bộ và hai tiểu đội thanh niên có vũ trang sử dụng hai xe tải của hãng Avivat, cắm cờ đỏ sao vàng đi Di Linh. Dọc đường đi, đoàn đã tước súng quân Nhật ở trạm gác Liên Khàng, Đại Ninh. Tại Di Linh, được sự giúp đỡ của một số thanh niên, công chức tiến bộ, đồng chí Trịnh Lý phân công một bộ phận do đội Thăng dẫn đầu đến đồn bảo an thuyết phục đồn trưởng Quản Chấp giao đồn cho cách mạng. Một bộ phận khác do đồng chí Trịnh Lý chỉ huy đến Toà sứ Di Linh (nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân huyện Di Linh) buộc tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu đầu hàng, giao nộp ấn tín, vũ khí và những giấy tờ quan trọng khác. Sau khi Cao Minh Hiệu chấp nhận và thực hiện các yêu cầu của cách mạng, đồng chí Trịnh Lý giao cho Cao Minh Hiệu ở lại quản lý số công chức cũ , không được giải quyết bất cứ việc gì và khi nào cách mạng cử người về tiếp quản sẽ có trách nhiệm bàn giao lại. Việc giành chính quyền ở Di Linh tuy diễn ra nhanh gọn nhưng chưa thành lập chính quyền cách mạnh vì chưa bố trí được cán bộ.

Sáng ngày 23 tháng năm 1945, các tầng lớp nhân dân Dran mang theo cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu đến dự mít tinh tại khu vực ngã ba (nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân thị trấn Dran). Đồng chí Trịnh Lý tuyên bố cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi và giới thiệu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện gồm 7 người :

Phạm Tất Cung: Chủ tịch;

Đoàn Cung: Phó chủ tịch;

Touneh Hàn Đăng: Uỷ viên Dân tộc;

Lê Văn Uẩn: Uỷ viên trị an (công an);

Lê Quang Liệu: Uỷ viên Quân sự;

Lê Văn Xương: Uỷ viên Tư pháp ;

Hoàng Hữu Hưu: Uỷ viên Kinh tế.

Đồng thời giới thiệu Uỷ ban Mặt trận Việt Minh huyện gồm 5 người:

 Nguyễn Ngự: Chủ nhiệm.

 Đoàn Cung, Uỷ viên.

 Lê Văn Dụ: Thư ký.

 Lê Quang Liệu: Uỷ viên.

 Lê Văn Uẩn: Uỷ viên.

Tại cuộc mít tinh này, Ban chấp hành các đoàn thể quần chúng cũng được giới thiệu ra mắt đồng bào .

Những ngày sau đó, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời, Uỷ ban Việt Minh phân công cán bộ xuống các xã bắt lý trưởng nộp con dấu sổ sách giấy tờ và thành lập chính quyền cách mạng, cử người vào Ban Chấp hành Việt Minh và các đoàn thể quần chúng.

Tại Đà Lạt, theo đúng kế hoạch đã định, sáng sớm ngày 23 tháng 8 năm 1945, từ các địa bàn ngoại ô, các tầng lớp nhân dân hàng ngũ chỉnh tề mang theo cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, các loại vũ khí thô sơ rầm rộ kéo về tập trung trước nhà thông tin triển lãm (nay là khu vực trước rạp 3/4) dự mít tinh. Đặc biệt đoàn biểu tình của đồng bào các dân thiểu số ở tổng Lạch (xã Lát huyện Lạc Dương) cũng kéo về Đà Lạt tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại khu vực trung tâm, gần 10.000 người đội ngũ chỉnh tề, các tổ chức quần chúng như thanh niên, công nhân, phụ nữ, phụ lão, được tổ chức theo từng đoàn tay cầm dao, kiếm, cuốc nỉa, gậy gộc, các đội tự vệ (trong đó có một đơn vị nữ trên 30 chị mặc đồng phục) trang bị dao găm, mã tấu, lựu đạn, súng với khí thế sôi sục cách mạng chờ lệnh Uỷ ban khởi nghĩa.

Được lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, cả một rừng người rợp cờ đỏ búa liềm và cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu kéo đến bao vây dinh Tỉnh trưởng Lâm Viên (nay là số 4 đường Thủ Khoa Huân) liên tiếp hô vang các khẩu hiệu “đả đảo chủ nghĩa đế quốc”; “đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”, “ Mặt trận Việt Minh muôn năm”…Trước sức mạnh của quần chúng và thái độ kiên quyết của Uỷ ban khởi nghĩa, Tỉnh trưởng Ưng An khúm núm đem nộp ấn tín, sổ sách cho đại biểu Uỷ ban khởi nghĩa. Lấy xong dinh tỉnh trưởng, đoàn biểu tình kéo đến bao vây đồn Bảo An, đồn trưởng Quản Trang tập trung binh lính trước sân để làm lễ giao đồn, nộp kiếm và vũ khí (ta thu được trên 200 khẩu súng, trong đó có 4 khẩu trung liên và một số tiểu liên), giấy tờ cho đồng chí Nghiêm Nghị. Cùng lúc đó cờ quẻ ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên tung bay trên cột cờ. Từ đồn bảo an, đoàn biểu tình kéo sang phá cửa nhà lao, thả hết những người bị Nhật bắt giam và đón các đồng chí Ngô Huy Diễn, Nguyễn Thế Tính đang bị giam trong xà lim. Cán bộ và đồng bào vô cùng xúc động được gặp lại hai đồng chí thân yêu của mình đã kiên cường chiến đấu cho đến ngày thắng lợi.

Tiếp đó, đoàn biểu tình kéo đến bao vây dinh Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh. Khi đại diện của Uỷ ban khởi nghĩa vào gặp, Tổng đốc Trần Văn Lý rất ngoan cố, không chịu giao nộp ấn tín, giấy tờ sổ sách cho cách mạng với lý do y là Tổng đốc của 4 tỉnh và không phục tùng mệnh lệnh của Việt Minh tỉnh Lâm Viên. Sau 2 giờ thương thuyết không có kết quả, Uỷ ban khởi nghĩa quyết định bắt giam Trần Văn Lý, thu toàn bộ ấn tín, sổ sách, giấy tờ và tài sản.

Sau khi đã chiếm được các vị trí quan trọng, Uỷ ban khởi nghĩa quyết định phân tán lực lượng thành các đoàn nhỏ để tiếp quản sở Liêm phóng, đồn cảnh sát, bắt một số tên cảnh sát, mật thám ác ôn, nhưng không thu được giấy tờ sổ sách vì chúng đã đốt trước lúc lực lượng cách mạng đến. Ngoài ra, ta còn tiếp quản một số cơ sở quan trọng khác. Tuy vậy, quân Nhật vẫn còn chiếm Nhà băng (ngân hàng), Kho bạc, Nhà dây thép (bưu điện), Nhà máy đèn, Nha địa dư, Sở thuốc (Viện Pasteur).

Tối 23 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban khởi nghĩa và một số cán bộ, đảng viên, cơ sở cốt cán họp tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên (nguyên là dinh Tỉnh trưởng, số 4 đường Thủ Khoa Huân) để đánh giá tình hình khởi nghĩa, đề ra một số nhiệm vụ trước mắt. Hội nghị nhất trí thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên gồm các đồng chí:

 Phan Đức Huy: Chủ tịch;

 Đinh Quế: Phó chủ tịch;

 Trương Văn Hoàn: Uỷ viên Ngoại giao[7];

 Nghiêm Nghị: Uỷ viên Quân sự;

 Ngô Huy Diễn: Uỷ viên Tuyên truyền;

Phạm Khắc Quán: Uỷ viên Thư ký;

Ta Tiôn Đôn: Uỷ viên Dân tộc[8].

Ngoài ra, còn phân công một số cán bộ phụ trách các ban chuyên môn:

Phạm Lượng: Cảnh sát trưởng

Lương Xuân Chương: Trưởng ban Liêm phóng

Nguyễn Bính: Trưởng ban Trinh sát

Chung Văn Năm: Truởng ban Tài chính

Tôn Thất Trừng: Trưởng ban Kinh tế

Sáng ngày 24 - 8- 1945, các tầng lớp nhân dân Đà Lạt tập trung tại khu vực chợ dự mít tinh. Đại biểu Việt Minh tỉnh báo cáo tình hình Tổng khởi nghĩa trong cả nước và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh Lâm Viên, nhiệm vụ và chương trình của Mặt trận Việt Minh. Sau đó, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên ra mắt đồng bào, một số cán bộ trong Uỷ ban và đại biểu các tầng lớp nhân dân phát biểu ý kiến nói lên niềm tự hào của người dân một nước độc lập, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ và Mặt trận Việt Minh, quyết tâm đoàn kết để bảo vệ nền độc lập.

Sau khởi nghĩa, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Lâm Viên được thành lập gồm các đồng chí:

Ngô Huy Diễn: Chủ nhiệm

Nguyễn Thế Tính: Uỷ viên

Phạm Thị Hồng: Uỷ viên

Nguyễn Đình Lãm: Uỷ viên

Những ngày tiếp theo, các đoàn thể quần chúng như công nhân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão cũng được thành lập . Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời và Uỷ ban Việt Minh tỉnh Lâm Viên phân công cán bộ xuống các địa bàn thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở.

Để chuẩn bị lực lượng nòng cốt khi thời cơ đến sẽ phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền, đầu tháng 8 năm 1945, đồng chí Hồ Nhã Tránh (Hồng Nhật) xuống Blao tập hợp những công chức thanh niên tiến bộ vào đội tự vệ. Đây còn là lực lượng cán bộ của cách mạng sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Đội tự vệ do đồng chí Hoàng Văn Sỹ và đồng chí Trần Văn Chương phụ trách đã vào các đồn điền để thu số vũ khí của Pháp còn để lại.

Được tin Đà Lạt khởi nghĩa thắng lợi, ngày 26 tháng 8 năm 1945, hàng ngàn nhân dân huyện B’lao mang theo cờ đỏ sao vàng, vũ khí kéo về khu vực vườn thực nghiệm dự mít tinh. Những người chủ trì cuộc mít tinh thông báo cuộc Tổng khởi nghĩa đã thắng lợi ở nhiều địa phương trong cả nước, tuyên bố giải tán chính quyền cũ của địch và thành lập chính quyền cách mạng gồm các ông:

Nguyễn Đại Hoà: Chủ tịch[9]

Lã Xuân Đỉnh: Phó Chủ tịch

Hoàng Nguyễn Lê: Uỷ viên Thường trực

Vũ Huy Trọng: Uỷ viên Quân sự

Đỗ Hữu Duật: Uỷ viên Kinh tế

Sau khi tỉnh Lâm Viên khởi nghĩa giành thắng lợi, chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở được thành lập, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh phát hiện ở tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn chưa thành lập chính quyền cách mạng, Tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu vẫn tiếp tục quản lý số công chức cũ, nên đã cử đồng chí Hồ Nhã Tránh xuống giúp tỉnh thành lập chính quyền.

Sáng 28 tháng 8 năm 1945, khoảng 100 cán bộ và nhân dân Đà Lạt do đồng chí Hồ Nhã Tránh dẫn đầu đi trên 3 xe ô tô mang cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu xuống Di Linh. Đoàn đã gặp gỡ, trao đổi và tranh thủ ý kiến của anh em công chức,thanh niên về cách tiến hành tiếp quản các cơ quan và cử người đến tiếp quản đồn bảo an. Lực lượng thanh niên hăng hái vận động nhân dân dự mít tinh. Chiều 28 tháng 8, tại sân vận động Di Linh, hàng trăm công chức, thanh niên, đồng bào Kinh, Thượng dự mít tinh. Đồng chí Hồ Nhã Tránh thông báo cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước, ở Đồng Nai Thượng chính quyền đã về tay nhân dân và giới thiệu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh gồm các đồng chí:

Nguyễn Đại Hoà: Chủ tịch

Nguyễn An: Phó Chủ tịch

Phạm Quý: Uỷ viên

Nguyễn Thiện Thuần: uỷ viên

Lê Khắc Vận: Uỷ viên

Hà Minh Hoài: Uỷ viên

Sau cuộc mít tinh, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh cử người đến tiếp quản một số công sở khác. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập do đồng chí Hồ Nhã Tránh làm chủ nhiệm. Những ngày sau đó các đoàn thể quần chúng và chính quyền cách mạng cũng lần lượt ra đời.

Như vậy, chỉ trong vòng 7 ngày (từ 22 đến 28 tháng 8 năm 1945) với khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân mà hạt nhân lãnh đạo là các Chi bộ Đảng, các tổ chức quần chúng và lực lượng tự vệ, nhân dân các dân tộc hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, thành lập chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh từ tỉnh đến cơ sở.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thắng lợi đã góp phần cùng cả nước đập tan ách phát xít Nhật trong 5 năm, đập tan ách thống trị của Pháp 87 năm, lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do do nhân dân làm chủ đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng thắng lợi đã đem lại những quyền lợi chính đáng: Bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, ngày làm 8 giờ, bỏ thuế thân, xoá mù chữ, quyền ứng cử, bầu cử…Tuy những quyền lợi đó chỉ được hưởng trong một thời gian ngắn, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc không thể phai mờ trong mỗi người. Ấn tượng đó đã trở thành động lực tinh thần và được phát huy mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ sau này.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng diễn ra trong lúc tổ chức Đảng ở địa phương còn yếu, số lượng đảng viên ít, có người bị bắt, bị tù đày nhưng vẫn nêu cao ý chí cách mạng và vai trò lãnh đạo, tập hợp được nòng cốt trong thanh niên, công nhân, nông dân, trí thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít bị tổn thất. Trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thu hút đông đảo lực lượng quần chúng tham gia giương cao cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm và với vũ khí trong tay, sôi sục khí thế cách mạng, đã thể hiện sức mạnh to lớn của nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lâm Viên, Đồng Nai Thượng thắng lợi, sau khi lật đổ chính quyền của địch, phải gắn liền với việc thành lập chính quyền cách mạng mới thực sự đem lại thắng lợi triệt để và trọn vẹn, phát huy được ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Tuy nhiên, do chưa chuẩn bị lực lượng cán bộ nên ở Di Linh đã lật đổ chính quyền địch từ đêm 22 tháng 8 năm 1945 nhưng đến ngày 28 tháng 8 năm 1945 mới đưa lực lượng từ Đà Lạt xuống cùng với các tổ chức quần chúng ở địa phương để thành lập chính quyền cách mạng. Ở Đà Lạt, một số công sở quan trọng quân Nhật vẫn còn chiếm giữ. Mặt khác, do không thấy hết bản chất ngoan cố, hiếu chiến của Nhật - Pháp, nên chính quyền cách mạng chưa có kế hoạch đối phó kịp thời với những diễn biến phức tạp trong những ngày đầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.


[1] Ngày 1 tháng 1 năm 1930, phái “tả” của Đảng Tân Việt thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn

[2] Quê ở Nhượng Bản, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.

[3] Còn có tên là Trần ngọc Diệm, quê ở láng Thôn, Hưng Nguyên, Nghệ An, công nhân lái xe khách sạn Palace.

[4] Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ.

[5] Nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[6] Tại Cầu Đất - Trạm Hành có một chi bộ Đảng (còn gọi là chi bộ đường sắt) gồm các đồng chí: Trịnh Lý, Lê Trực, Trần Diêu, Nguyễn Ngự.

[7] Chức vụ Uỷ viên còn gọi là Uỷ trưởng

[8] Người Chu Ru nguyên thừa phái ở dinh Quản Đảo Đà Lạt, năm 1968 làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Tuyên Đức. Từ trần năm 1977.

[9] Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập do đồng chí Nguyễn Đại Hoà làm Chủ tịch nên đồng chí Lã Xuân Đỉnh trực tiếp điều hành mọi công việc của Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Blao.

Phần thứ hai

ĐẢNG BỘ LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 - 1954)

I. HAI TỈNH LÂM VIÊN VÀ LÂM ĐỒNG NAI THƯỢNG TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN (9/1945 - 1/1946)

1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay sau khi Nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng đề ra ba nhiệm vụ cần kíp trước mắt là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.

Quán triệt tinh thần đó, Mặt trận Việt Minh và Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã đề ra một số chủ trương và nhiệm vụ trước mắt để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ:

1. Giải tán bộ máy chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở, sử dụng lại những công chức cũ tình nguyện theo cách mạng. Đưa những đại biểu dân tộc thiểu số, nhân sĩ, trí thức vào cơ quan chính quyền, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc.

2. Tổ chức, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng các cấp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Việt Minh và của Chính phủ trong các tầng lớp nhân dân.

3. Thi hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và sắc lệnh giảm tức, hoãn nợ những người nghèo. Tuyên bố xoá nợ cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nợ người Kinh. Giai cấp công nhân thực hiện ngày làm việc 8 giờ.

4. Thực hiện sắc lệnh thanh toán nạn mù chữ, phát động phong trào bình dân học vụ, mở các lóp học ban đêm. Các trường học tiếp tục mở cửa, bỏ những chương trình giảng dạy trái với đường lối cách mạng. Phát động phong trào thể dục - thể thao, văn nghệ quần chúng, dịch các bài hát cách mạng ra tiếng dân tộc để đưa vào vùng dân tộc thiểu số.

5. Tịch thu và sung công tài sản của chính quyền thực dân, phong kiến và tư sản Pháp. Thành lập ban tự quản trong công nhân để quản lý các xí nghiệp, đồn điền và đẩy mạnh sản xuất. Phát động phong trào tăng gia sản xuất.

 6. Giải tán các đội bảo an, tập hợp những thanh niên, công chức tiến bộ, tích cực hoạt động vào các đơn vị Giải phóng quân (đến tháng 10 năm 1945 chuyển thành Vệ quốc đoàn) và dân quân tự vệ. Thu nhận thêm một số sĩ quan, binh lính bảo an cũ tình nguyện vào Giải phóng quân và sử dụng họ làm huấn luyện viên quân sự. Cử một số cán bộ đi học tại trường Quân chính Trung ương để chuẩn bị xây dựng lực lượng quân đội.

7. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên quyết định bắt giam và giải ra Trung Bộ xét xử các tên: Trần Văn Lý, Tổng đốc Lâm - Đồng - Bình - Ninh; Ưng An, Tỉnh trưởng Lâm Viên và những tên mật thám ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, thả hết những phạm nhân bị Pháp - Nhật bắt giam. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng cho Tỉnh trưởng Cao Minh Hiệu về quê, truy bắt bọn Pháp và tay sai đang lẩn trốn chống phá cách mạng.

8. Tổ chức phong trào lạc quyên giúp đồng bào miền Bắc bị đói với tinh thần nhường cơm, sẻ áo.

9. Phát động nhân dân hưởng ứng “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”. Nhân dân các dân tộc hai tỉnh đã biểu thị lòng yêu nước, có người đã hiến cả tư trang kỷ niệm của mình cho tổ quốc, các nhà tư sản Việt Nam đã đem góp một số vàng lớn. Ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã quyên góp được trên 10 kg vàng, một số lớn tiền và đồng.

Những chủ trương và nhiệm vụ trên đây đều được thực hiện nghiêm túc và có kết quả tốt. Các đoàn thể quần chúng như công nhân, phụ nữ, thanh niên, phụ lão, Ban Hồng thập tự đóng vai trò nòng cốt trongviệc tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân. Hàng trăm công nhân, thanh niên, lính bảo an cũ gia nhập các đơn vị giải phóng quân và tự vệ, tích cực luyện tập quân sự và canh gác để giữ gìn trật tự trị an.

Được quân Anh giúp sức dưới danh nghĩa quân đồng minh, thực dân Pháp đã buộc quân Nhật phải giao lại các vùng đang chiếm đóng, tước vũ khí, giải tán lực lượng vũ trang của ta. Nhân dân lại phải tiến hành cuộc chiến đấu chống Nhật, Pháp để bảo vệ chính quyền non trẻ và bảo vệ Tổ quốc.

2. Chiến đấu và rút lui để giữ gìn lực lượng

Được tin quân Nhật chuẩn bị đánh chiếm Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Uỷ ban nhân dân huyện B’lao[1] bố trí hai đội tự vệ (mỗi đội 150 người) xây dựng phòng tuyến ở đèo B’lao. Một đội do đồng chí Vũ Huy Trọng, Uỷ viên Quân sự chỉ huy; một đội do đồng chí Cao Đức Vinh, đại đội trưởng đại đội tự vệ chỉ huy. Các đơn vị đã bố trí chướng ngại vật giữa đường, đồng thời xếp đá và cây bên vách núi để chuẩn bị đánh địch.

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, đoàn xe của Nhật gồm 15 chiếc chở 300 quân tiến lên đèo Blao. Khi chúng lọt vào trận địa của ta, đồng chí Cao Đức Vinh nổ súng phát lệnh, từ bên vách núi các đơn vị đồng loạt nổ súng, các bẫy đá và cây đổ ập xuống đường. Cuộc chiến đấu kéo dài một giờ 30 phút, sau đó các đơn vị rút về Blao để củng cố lực lượng. Trong cuộc chiến đấu này, ta có 10 đồng chí hy sinh, trong đó có đồng chí Cao Đức Vinh và 4 thanh niên người dân tộc thiểu số.

- Tại Đà Lạt, ngày 24 tháng 9 năm 1945, quân Nhật mời đại biểu Uỷ ban nhân dân tỉnh đến buộc phải chấp nhận hai điều kiện : Một là, dán khắp nơi trong tỉnh bản thông cáo của Gra- Xây (Gra cey)[2] Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương. Hai là, giải tán lực lượng vũ trang của ta, nộp vũ khí cho Nhật. Đoàn đại biểu của ta bị Nhật giữ lại hai ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần, sau đó ta đã nhượng bộ và chấp nhận cả hai điều kiện, nhưng có sửa đổi là được giữ lại 200 súng để thanh niên canh gác. Đoàn đại biểu về báo cáo nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên không đồng ý với thoả thuận đó và gửi thư cho Nhật bác bỏ các yêu sách. Tuy vậy, ta cũng giao cho Nhật một số súng để tình hình bớt căng thẳng.

Ở Đồng Nai Thượng, quân Nhật cũng đưa ra những điều kiện tương tự với Uỷ ban nhân dân tỉnh, nhưng ta đã tranh thủ và thuyết phục được quân Nhật nên chỉ giao một số súng hỏng có tính chất lấy lệ.

Dưới sự thúc ép của thực dân Pháp, quân Nhật ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã vi phạm độc lập chủ quyền của ta và có những hành động khiêu khích. Trước tình hình đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên chủ trương dùng lực lượng quần chúng đấu tranh đòi quân Nhật trả lại những công sở mà chúng đang chiếm giữ.

Sáng ngày 3 tháng 10 năm 1945, nhân dân từ các nơi trong thị xã Đà Lạt tập trung tại khu vực chợ mít tinh hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ủng hộ Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đoàn biểu tình từ Trại Mát lên Đà Lạt để dự mít tinh, khi đến Ga ra Mạc-ti-nét (nay là xưởng sửa chữa ôtô ở đường Trần Hưng Đạo) quân Nhật bắn bị thương một người. Đồng chí chủ trì cuộc mít tinh báo tin cho nhân dân biết. Như lửa đổ thêm dầu, hàng nghàn ngưòi hô to khẩu hiệu: “Đả đảo phát - xít Nhật, trả thù cho đồng bào”. Với vũ khí thô sơ, nhân dân chia thành các đoàn đến bao vây các công sở, đòi quân Nhật giao lại chủ quyền cho ta.

Đoàn thứ nhất kéo đến bao vây Viện Pát- xtơ (nay ở đường Lê Hồng Phong). Đoàn thứ hai kéo đến khách sạn Palace, ngân hàng, bưu điện. Đoàn thứ ba kéo xuống nhà ga xe lửa, khi đến cuối sân vận động gặp quân Nhật từ trên đồi bắn xuống, ta tổ chức chiến đấu cho đến ngày hôm sau.

Tại nhà máy điện (nay ở đường 3-2 Đà Lạt), theo chủ trương của Uỷ ban nhân dân tỉnh, lực lượng tự vệ nhà máy đã nổi dậy chiếm giữ và kéo ra bao vây bốt ở ngã ba nhà máy điện. Quân nhật ở bên trong bắn ra, một số đồng bào, tự vệ hy sinh, trong đó có đồng chí Nguyễn Lượng (tức Tư Phì). Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, lực lượng tự vệ nhà máy điện đã tiêu diệt một số quân Nhật.

Tại khách sạn Palace, dinh toàn quyền Đông Dương, ngân hàng, bưu điện và Viện Pát - xtơ, ta đã xiết chặt vòng vây, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Mặc dù anh Vũ Hoà Hốt công nhân nhà máy điện hy sinh và nhiều người bị thương nhưng không một ai rời vị trí chiến đấu. Khí thế đánh Nhật lan ra khắp nơi, ở các ngả đường nhân dân truy lùng, vây bắt và tước súng quân Nhật, có nơi đã bắt gọn một tiểu đội Nhật, có chị cầm dao đâm chết một tên Nhật trên đường phố. Nhân dân tự động nấu cơm, dùng xe tiếp tế đến các vị trí chiến đấu, các hội viên trong Ban Hồng thập tự ngày đêm tận tình chăm sóc những người bị thương. Sang ngày thứ hai, ở Viện Pát - xtơ, nhân dân đã bao vây bắt gọn toán lính Nhật trong đó có một sĩ quan. Thông qua tên này, ta và Nhật đồng ý đình chiến và trao trả những người bị thương, bị bắt, quy định những vùng đóng quân của Nhật.

Qua hai ngày chiến đấu ta đã tiêu diệt 28 tên Nhật, bắn bị thương nhiều tên khác, thu nhiều súng. Lực lượng của ta có 40 người đã anh dũng hy sinh, 80 người bị thương.

Với tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, chỉ bằng vũ khí thô sơ, nhân dân Đà Lạt đã anh dũng chiến đấu chống quân Nhật để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Trận đánh Nhật ngày 3 tháng 10 năm 1945 mãi mãi là một tấm gương sáng ngời, một bản anh hùng ca bất diệt. Ngày 11 tháng 10 năm 1945, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên tổ chức lễ truy điệu những đồng bào và chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nguyện noi gương chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng.

Cuối tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp chuẩn bị tiến công các tỉnh cực Nam Trung Bộ. Trước tình hình đó, Chính phủ lâm thời chỉ thị cho các tỉnh tích cực xây dựng lực lượng và tổ chức chiến đấu. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên quyết định đưa các cơ quan, đoàn thể, người già, phụ nữ trẻ em tản cư xuống Cầu Đất. Ở Đà Lạt chỉ còn một bộ phận thường trực do một đồng chí Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách. Lực lượng thanh niên, tự vệ thường xuyên tuần tra canh gác, sẵn sàng chiến đấu. Công nhân nhà máy điện đã tháo gỡ những thiết bị quan trọng mang theo nên nhà máy ngừng hoạt động.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng chủ trương cho nhân dân tản cư xuống Bình Thuận. Tại B’lao, Uỷ ban nhân dân huyện quyết định mở kho lấy vải, trà, thuốc chữa bệnh phân phát cho nhân dân. Một bộ phận theo đường phía Nam rút xuống Xa Lôn, Bầu Nước, một bộ phận theo sông La Ngà xuống Tánh Linh. Ở Di Linh, các cơ quan của tỉnh theo đường số 8 rút xuống Halon, Gia Bát, tỉnh chỉ để lại một bộ phận trinh sát nắm tình hình và bí mật chuyển tài liệu, hàng hoá xuống nơi tản cư.

Do yêu cầu của sự chỉ đạo, cuối tháng 10 năm 1945, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viên cử đồng chí Trần Xuân Biền làm Chủ tịch tỉnh, các đồng chí Trương Văn Hoàn, Chung Văn Năm, Nghiêm Nghị sang công tác bên quân đội. Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng cử đồng chí Nguyễn An làm Chủ tịch tỉnh và bổ sung thêm một số uỷ viên.

Nhận rõ âm mưu và hành động của địch, Uỷ ban nhân dân hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã chủ trương gấp rút xây dựng các phòng tuyến đánh địch ở đèo Blao, đèo Prenn, Liên Khàng, Phi Nôm, Trại Mát. Đồng chí Trương Văn Hoàn chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ từ đèo Blao đến Phi Nôm, Dran, đồng chí Nghiêm Nghị chịu trách nhiệm tổ chức chỉ huy phòng thủ từ Trại Mát đến Dran. Nhân dân các địa phương cùng với thanh niên, tự vệ , công nhân hăng hái tham gia xây dựng phòng tuyến và làm chướng ngaị vật trên đường 20, đường 11.

Ngày 18 tháng 10 năm 1945, Bộ chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ tăng cường cho Lâm Viên một trung đội Vệ quốc quân Nam Tiến do đồng chí Trần Đàm chỉ huy, trung đội này được đưa xuống phòng tuyến đèo Blao. Từ miền Đông Nam Bộ, một trung đội Vệ quốc quân do đồng chí Mười Mè chỉ huy lên Đồng Nai Thượng cùng phối hợp với trên 100 cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Kinh - Thượng, công nhân đồn điền khẩn trương xây dựng phòng tuyến phía Đông đèo Blao. Ở tuyến sau phụ nữ lo tiếp tế, tải thương. Các đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Thượng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Blao và đại biểu các đoàn thể thường xuyên đến phòng tuyến thăm hỏi, cổ vũ động viên bộ đội, dân quân tự vệ.

Ngày 9 và 10 tháng 11 năm 1945, quân Nhật tiến theo đường 20 để thăm dò lực lượng ta, nhưng chúng đều bị đánh lui ở chân đèo Blao. Lúc 15 giờ ngày 11 tháng 11 năm 1945 một đoàn xe quân sự Nhật hơn 40 chiếc xe chở gần 300 lính tiến từ Sài Gòn lên. Khi đoàn xe lọt vào vị trí phục kích quân ta đồng loạt nổ súng . Cuộc chiến đấu kéo dài đến gần tối nhưng quân Nhật vẫn không tiến lên được, nhiều tên bị chết và bị thương chúng phải quay về ngủ đêm tại đồn Di-đi- ê (Didier). Trong trận chiến đấu này, đồng chí Mười Mè và một số tự vệ hy sinh. Sáng ngày hôm sau, quân Nhật lại tổ chức tấn công, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, địch tổ chức một mũi đánh vu hồi sau lưng trận địa ta. Vì lực lượng quá chênh lệch, bộ đội và lực lượng tự vệ phải rút khỏi phòng tuyến.

Cuộc chiến đấu ở đèo Blao tuy không cân sức nhưng bộ đội và lực lượng tự vệ đã chiến đấu rất dũng cảm, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt và làm bị thương gần 30 tên, phá huỷ một xe quân sự. Nhân dân Lâm Viên và Đồng Nai Thượng rất tự hào ghi nhớ công ơn của gần 20 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu này.

Dọc đường từ đèo Blao đến Đà Lạt do ta bố trí nhiều chướng ngại vật nên đến ngày 15 tháng 11 năm 1945 quân Nhật mới lên đến Đà Lạt. Được tăng cường thêm lực lượng, ngày 16 tháng 11 năm 1945 quân Nhật chiếm lại hầu hết các công sở, nhà máy, đóng thêm nhiều đồn bốt, bắt giam đồng chí Đinh Quế, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Viênvà hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta. Tại Di Linh, quân Nhật chiếm tất cả công sở, nhưng người và tài sản chúng ta đã di chuyển. Ngày 17 tháng 11 năm 1945, quân Nhật xuống chiếm đóng Blao, bắt đồng chí Nguyễn Đại Hoà, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và một số cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta.

Quán triệt Chỉ thị “kháng chiến, kiến quốc’’ của Trung ương Đảng, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã thành lập Uỷ ban kháng chiến[3] gồm có đại biểu Uỷ ban nhân dân, Việt Minh, quân đội để động viên, tổ chức nhân dân chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng . Đơn vị Vệ quốc đoàn ở Đà Lạt xuống tăng cường cho phòng tuyến Trại Mát. Lực lượng tự vệ Đa Thành tổ chức một bộ phận bí mật chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí vào núi Bà dự định lập chiến khu, một bộ phận khác tiếp tục canh gác, theo dõi quân Nhật ở khu vực Xi-tê-đờ-cu (Citedecoux). Lực lượng tự vệ vùng Cam Ly tăng cường một bộ phận vào bảo vệ kho tàng ở Tà Nung, số còn lại hoạt động ngăn chặn quân Nhật đi cướp phá.

Sau khi được tăng cường lực lượng, quân Nhật ở Đà Lạt đóng thêm nhiều đồn bót, hoạt động ráo riết. Đầu tháng 12 năm 1945, lực lượng tự vệ Đa Thành, Cam Ly

nhận lệnh rút vào Tà Nung để bảo vệ hệ thống kho tàng. Được bọn tay sai dẫn đường, quân Nhật nhiều lần tổ chức tấn công vào hệ thống kho tàng ở Tà Nung nhưng đều bị đánh lui. Cuối tháng 12 năm 1945, lực lượng tự vệ ở Tà Nung lại được lệnh rút lui vào La Ba để thành lập một đơn vị tự vệ chiến đấu. Nhiệm vụ của đơn vị này là xây dựng phòng tuyến ở khu vực cây số 42 trên đường 21 kéo dài (nay là quốc lộ 27) để ngăn chặn quân địch từ Liên Khàng vào và từ Buôn Ma Thuột xuống, đồng thời vận chuyển lương thực, thực phẩm từ kho Tà Nung vào. Bộ phận trinh sát hoạt động tích cực, nắm chắc tình hình địch và thường xuyên báo cáo về cơ quan chỉ huy quân sự đóng ở Dran. Quân Nhật cho bọn tay sai bí mật thăm dò lực lượng ta và tổ chức hành quân vào La Ba. Để ngăn chặn địch tiến quân, các chiến sĩ ta đã phá cầu Đạ Đờn và kịp thời báo động để đồng bào lánh vào rừng. Sau hai giờ cướp phá tài sản của đồng bào nhưng không phát hiện được lực lượng ta, chúng đã phải rút lui.

Uỷ ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên tiếp tục chỉ đạo việc đưa nhân dân tản cư khỏi Đà Lạt, tổ chức lực lượng trinh sát ở lại hoạt động để nắm tình hình địch, diệt tề, trừ gian. Tại các khu vực tản cư tuy đời sống gặp nhiều khó khăn, nhưng đồng bào vẫn tin tưởng, lạc quan cách mạng, hăng hái phục vụ chiến đấu. Những nơi địch chưa chiếm đóng ta đẩy mạnh luyện tập quân sự, mở lớp đào tạo cấp tốc cán bộ trung đội. Một số trí thức, phụ nữ được học tập chính trị và công tác tuyên truyền trong vùng địch để trở về hoạt động cách mạng.

Ở thị xã, thị trấn quân Nhật chiếm đóng phố xá vắng người, nhiều nhà hàng đóng cửa, chợ họp thưa thớt, công nhân các nhà máy, công sở, đồn điền thiếu việc làm , nhiều người bỏ về quê. Lực lượng trinh sát ở Đà Lạt tích cực hoạt động, tháng 12 năm 1945 tên Vũ Đình Hải cùng với hai tên thân cận đã bị trừng trị.

Từ tháng 12 năm 1945, Vệ quốc đoàn được tổ chức theo ngành dọc, các đơn vị trước đây thuộc tỉnh nay thuộc hệ chỉ huy quân đội. Uỷ ban kháng chiến tỉnh tổ chức đơn vị cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan và nắm tình hình địch.

Để đối phó với âm mưu và hành động lấn chiếm của thực dân Pháp, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường chỉ đạo các tỉnh Nam Trung Bộ. Khu 6 được thành lập gồm 7 tỉnh từ Phú Yên trở vào. Lực lượng vũ trang hai tỉnh Lâm Viên và Ninh Thuận thống nhất thành một chi đội (tương đương một trung đoàn). Đồng chí Cao Thanh Trà làm chi đội trưởng, đồng chí Chung Văn Năm làm chi đội phó, đồng chí Lê Tự Nhiên làm chính trị viên, Ban chỉ huy Chi đội đóng ở Phan Rang. Chi đội tổ chức thành 3 đại đội (đại đội tương đương với tiểu đoàn) phụ trách các địa bàn: Cam Ranh, Đà Lạt và Phi Nôm.

Đầu tháng 12 năm 1945, số cán bộ tỉnh Lâm Viên học ở trường Quân chính Hà Nội về được tăng cường cho phòng tuyến Trại Mát được bố trí từ cây số 6 đến cây số 8 trên đường 11 để ngăn chặn quân địch từ Đà Lạt xuống, bảo vệ vùng đất còn lại của tỉnh, bảo vệ các cơ quan, đoàn thể và đồng bào tản cư ở Cầu Đất. Lực lượng bảo vệ phòng tuyến gồm 1 đại đội của chi đội, lực lượng tự vệ, thanh niên địa phương (có một số thanh niên là người dân tộc thiểu số) và công nhân nhà máy trà Cầu Đất, công nhân xe lửa. Phòng tuyến bố trí thành nhiều tuyến khác nhau có hầm hào, công sự chiến đấu và chướng ngại vật trên đường. Các cơ quan, đoàn thể, Ban Hồng thập tự thường xuyên đến động viên thăm hỏi, tặng quà cho các chiến sĩ.

Trong thời gian này, phái đoàn của Chính phủ lâm thời do Bộ trưởng Lê Văn Hiến dẫn dầu và phái đoàn của Bộ Tổng tư lệnh do đồng chí Đàm Minh Viễn lãnh đạo đến kiểm tra, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở phòng tuyến Trại Mát.

Ở Đồng Nai Thượng, Uỷ ban kháng chiến tỉnh chỉ đạo lập phòng tuyến ở cây số 42 trên đường số 8, bố trí trận địa và đặt chướng ngại vật trên tuyến đường Liên Khàng - Phi Nôm - Dran.

Sau khi chiếm đóng các thị xã, thị trấn quân Nhật tăng cường khủng bố, bắt bớ những người chúng cho là Việt Minh hòng uy hiếp tinh thần nhân dân, nhưng quần chúng nhân dân vẫn một lòng tin tưởng, hướng về cách mạng và lực lượng tự vệ vẫn bí mật hoạt động. Đêm ngày 2 rạng ngày 3 tháng 1 năm 1946, tự vệ Đà Lạt đã ném hai quả lựu đạn vào trạm phát điện Ăngkroét phá hỏng một số thiết bị làm cho trạm phát phải ngừng hoạt động mấy ngày. Đêm ngày 3 tháng 1 có 39 tù nhân ở nhà tù Đà Lạt bí mật vượt ngục.

Tại Kon Hing (nay là Blao) đồng bào các dân tộc thiểu số vô cùng khâm phục tinh thần bất khuất, anh dũng hy sinh của ông K’Kíu. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo thuộc dân tộc Cơ Ho ở buôn Blao Srê (ở xã Lộc Sơn), ông sớm có tinh thần cách mạng chống áp bức bóc lột, không đi xâu, đi lính cho Pháp. Hai lần bị bắt giam, thực dân Pháp tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc nhưng không khuất phục được ông. Mãn hạn tù trở về buôn làng, ông tiếp tục vận động đồng bào đấu tranh chống địch. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia xây dựng và chiến đấu tại phòng tuyến đèo Blao. Quân Nhật chiếm lại Đồng Nai Thượng, ông cùng một số cán bộ ở lại vùng địch để tuyên truyền, tổ chức nhân dân tham gia kháng chiến. Ông và một số cán bộ huyện Blao bị bắt. Biết không khuất phục được ông và để uy hiếp tinh thần đồng bào, ngày 5 tháng 1 năm 1946 địch đưa ông đi xử bắn. Trước mũi súng quân thù, ông vẫn hiên ngang và nói những lời đanh thép cuối cùng làm quân địch khiếp sợ: “Tao không sợ chết, tao chết vì nhân dân tao, vì núi rừng của tao… tao chết nhưng nhân dân tao vẫn tiếp tục đánh mày, tao chết trước mày chết sau, cái chết của bọn mày mang theo tội lỗi..”.

Ông K’Kíu không còn nữa, nhưng đồng bào các dân tộc vẫn nhắc đến ông, noi gương ông cùng nhau đoàn kết giữ vũng buôn làng. Đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ lòng yêu nước và quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Để thực hiện quyền làm chủ thật sự của nhân dân, ngày 6 tháng 1 năm 1946 nhân dân cả nước từ 18 tuổi trở lên tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, tuy hoàn cảnh hết sức khó khăn nhưng cuộc bầu cử vẫn được tổ chức và đảm bảo nguyên tắc, trong những vùng địch kiểm soát ta bí mật đưa hòm phiếu đến từng nhà để cử tri bỏ phiếu. Mặc dù địch tìm cách tuyên truyền, xuyên tạc, khủng bố nhưng cuộc bầu cử đã thành công tốt đẹp. Nhân dân phấn khởi, tự hào lần đầu tiên được thực hiện quyền làm chủ của mình trong một nước độc lập, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí, tin tưởng ở cách mạng. Kết quả bầu cử: ở Lâm Viên đồng chí Ngô Huy Diễn và ở Đồng Nai Thượng đồng chí Hồ Nhã Tránh (tức Hồng Nhật) trúng cử đại biểu Quốc hội.

Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có vị trí quan trọng về quân sự, có đường giao thông thuận tiện, Đà Lạt là nơi thực dân Pháp có nhiều cơ sở chính trị, kinh tế và xã hội. Do đó quyết tâm đánh chiếm cao nguyên này là mục tiêu chiến lược của thực dân Pháp.

Thực hiện kế hoạch đánh chiếm các tỉnh Cực Nam Trung bộ, thực dân Pháp đ­ưa một lực l­ượng khoảng 140 xe chở quân lên Đồng Nai Th­ượng và Lâm Viên. Phối hợp với quân Nhật tại chỗ, ngày 27 tháng 1 năm 1946, chúng tấn công phòng tuyến Trại Mát nhưng bị phân đội 2 thuộc trung đội 2, đại đội 3 đánh trả quyết liệt buộc phải rút xuống ấp Tây Hồ để củng cố. Đến 15 giờ, địch tiếp tục tấn công lên phòng tuyến, sau 2 giờ chiến đấu ta đã tiêu diệt 10 tên địch (có 1 tên trung uý) và thu 10 khẩu súng. Sáng ngày 28 tháng 1 năm 1946, địch tăng cường pháp binh, xe thiết giáp cùng lực lượng bộ binh tấn công vào các trận địa của ta.

Cán bộ, chiến sỹ quân đội và lực l­ượng tự vệ đã chiến đấu dũng cảm, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng. Chiều hôm đó lực l­ượng ta rút khỏi phòng tuyến Trại Mát và đ­ưa đồng bào tản c­ư xuống Đá Trắng (Ninh Thuận).

Tại phòng tuyến Phi Nôm - Dran, sau một ngày chiến đấu ác liệt, lực l­ượng ta cũng tạm thời rút xuống Ninh Thuận.

Sau khi phá vỡ đ­ược phòng tuyến trên đ­ường 11 và đư­ờng 21 kéo dài, hai cánh quân của địch theo đ­ường 11 xuống đánh chiếm Tháp Chàm, Phan Rang. Trong ngày hôm đó đồng chí Ngô Huy Diễn và đồng chí Chung Văn Năm xuống họp ban chỉ huy chi đội ở Phan Rang, lúc trở về đến đèo Krông Pha gặp quân địch từ trên xuống, chúng bắn hai đồng chí hy sinh.

Ở hư­ớng đư­ờng số 8, sau một ngày chiến đấu ác liệt ở phòng tuyến cây số 42, ta đã diệt đư­ợc nhiều tên địch trong đó có tên Sô-ven (Chauvel). Sau đó lực lượng vũ trang và đồng bào rút xuống vùng Suối Hộ, Suối Nha Đam (Bình Thuận).

Nh­ư vậy, đến ngày 28 tháng 1 năm 1946 thực dân Pháp đã hoàn toàn chiếm lại hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Th­ượng. Các cơ quan của Tỉnh, lực l­ượng vũ trang và một số đồng bào đã rút xuống Ninh Thuận và Bình Thuận để xây dựng căn cứ, chuẩn bị lực l­ượng trở về hoạt động ở tỉnh nhà. Từ đây lực l­ượng ở La Ba mất liên lạc với cấp trên, một số cán bộ chiến sĩ hoang mang bỏ đơn vị. Số còn lại gần 60 đồng chí rút vào Prơ-teng lập căn cứ tiếp tục hoạt động và tìm cách liên lạc với cấp trên.

Từ khi khởi nghĩa giành chính quyền đến khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng, với khoảng thời gian hơn 5 tháng vừa củng cố, xây dựng, vừa tổ chức chiến đấu để bảo vệ chính quyền, nhân dân hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Th­ượng đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách. Ủy ban nhân dân và các đoàn thể hai tỉnh đã có nhiều cố gắng nhằm nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ thành quả cách mạng. Khi thực dân Pháp có âm mư­u và hành động trở lại xâm l­ược, đồng bào các dân tộc và lực l­ượng vũ trang hai tỉnh đã cùng nhau đoàn kết, xây dựng các phòng tuyến chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sỹ và đồng bào đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành đ­ược.

Khoảng thời gian hơn 5 tháng ấy đã để lại trong ký ức nhân dân các dân tộc hai tỉnh niềm phấn khởi, tự hào, một lòng tin t­ưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng. Tuy nhiên, do thời gian gấp rút nên việc xây dựng chính quyền cách mạng và tổ chức các đoàn thể ở cơ sở chư­a đều khắp, nhất là ch­ưa kịp mở rộng đến các vùng dân tộc thiểu số, lại phải lo đối phó với tình hình địch hết sức căng thẳng và khẩn tr­ương. cán bộ lãnh đạo các cấp chưa có kinh nghiệm, chưa thấy hết âm mưu, thủ đoạn của địch nên việc chuẩn bị kháng chiến lâu dài ở địa phư­ơng chư­a có kế hoạch đầy đủ và kịp thời để chủ động đối phó. Mặt khác, khi quân Pháp trở lại xâm lư­ợc, các cơ quan đoàn thể và lực l­ượng vũ trang hai tỉnh đều rút lui ra khỏi tỉnh mà chư­a chú ý lập căn cứ, xây dựng bàn đạp, chỗ đứng chân ở trong tỉnh để các cơ quan lãnh đạo và lực lư­ợng vũ trang bám lại tiếp tục kháng chiến.

II. Củng cố lực lượng, xây dựng các khu căn cứ (2/1946 - 4/1949)

1. Đấu tranh giằng co quyết liệt ở Lâm Viên, thành lập các khu căn cứ ở Đồng Nai Thượng

Chủ trư­ơng tản cư­, thực hiện "vư­ờn không, nhà trống", không hợp tác với địch, được nhân dân Đà Lạt và các cơ quan của tỉnh thi hành triệt để. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, ốm đau, bệnh tật..., như­ng không một ai nản chí, chỉ có một số ng­ười khi đến Trà Kho (Ninh Thuận) vì cuộc sống quá khó khăn buộc phải trở về Lâm Viên như­ng cũng chỉ bám trụ trên trục đ­ường 11, ở ngoại ô Đà Lạt để tiện việc làm ăn sinh sống.

Chiếm đ­ược Lâm Viên, thực dân Pháp thừa nhận Đà Lạt là "Thành phố hiu quạnh". Để các hoạt động kinh tế, xã hội trở lại bình thư­ờng, chúng kêu gọi nhân dân, công nhân hồi cư­, nhất là công nhân nhà máy điện. Đồng thời thẳng tay đàn áp những ng­ười chúng tình nghi là cán bộ hoặc có những hành động phá hoại. Bộ máy ngụy quyền tay sai đ­ược xây dựng, củng cố, chúng thành lập "Hội đồng kỳ mục" ở các ph­ường, xã. Trong thời gian này, Ủy ban kháng chiến Tỉnh chủ trư­ơng đư­a một số cán bộ, công nhân cùng nhân dân trở về Đà Lạt để xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát.

Ở Ninh Thuận, địch th­ường xuyên càn quét, đánh phá vào các vùng cơ quan và đồng bào Đà Lạt tản c­ư làm cho đời sống đồng bào gặp rất nhiều khó khăn. Trư­ớc tình hình đó, Ủy ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên cử cán bộ xuống các địa bàn để động viên, ổn định chỗ ăn ở cho đồng bào. Lực l­ượng vũ trang Lâm Viên đ­ược củng cố và đã phục kích đánh địch nhiều trận trên đ­ường 11. Do địch th­ường xuyên đánh phá ác liệt, cuối tháng 3 năm 1946, cơ quan Ủy ban kháng chiến tỉnh phải dời về Ma N­ương, sau đó xuống Ph­ương Cựu, Tri Thủy, Mỹ T­ường (Ninh Thuận).

Các đội trinh sát và cán bộ đ­ược cử lên hoạt động ở Đà Lạt, Cầu Đất, Trạm Hành và Dran (trên đ­ường 11) thư­ờng xuyên bám sát đồng bào để tuyên truyền, vận động chống mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Đội công tác của đồng chí Hoàng Phi Hổ có 7 đồng chí đã xây dựng mật khu ở Trại Mát và quanh thị xã Đà Lạt, chuẩn bị mọi điều kiện để đón cán bộ lên hoạt động. Ủy ban kháng chiến và Mặt trận Việt Minh tỉnh chỉ đạo việc tổ chức các đư­ờng dây liên lạc theo đ­ường hợp pháp để đ­ưa tài liệu, truyền đơn và cán bộ lên công tác ở Đà Lạt. Hoạt động của các đội công tác đã có ảnh hư­ởng rất lớn trong nhân dân, do đó, địch tìm mọi cách ngăn chặn. Chính tên công sứ Pháp đã phải thừa nhận: "Hoạt động của Việt Minh làm cho tình hình trở nên trầm trọng. Cán bộ Việt Minh đêm đêm đến các làng để tuyên truyền giáo dục và tổ chức Ủy ban Việt Minh".

Tình hình đất nư­ớc lúc này cũng diễn ra vô cùng khó khăn phức tạp. Bọn Tưởng Giới Thạch và tay sai ở miền Bắc tìm mọi cách để chống phá cách mạng, lật đổ chính quyền. Ở miền Nam thực dân Pháp đã chiếm Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ư­ớc Hoa - Pháp đã đư­ợc ký kết ở Trùng Khánh. Đó là sự cấu kết giữa Pháp và Trung Quốc hòng ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu Á. Trước tình hình đó, ngày 3 tháng 3 năm 1946, Ban Th­ường vụ Trung ­ương Đảng ra chỉ thị: "Tình hình và chủ trư­ơng". Chỉ thị đã phân tích tình hình trong và ngoài n­ước, so sánh lực l­ượng giữa ta và địch, từ đó, đề ra chủ tr­ương đúng đắn nhằm phân hóa và cô lập kẻ thù. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ ta và Chính phủ Pháp ký Hiệp định sơ bộ, n­ước Pháp phải thừa nhận Việt Nam là một n­ước độc lập, có chủ quyền, có nghị viện, quân đội và tài chính riêng.

Nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn và quán triệt chủ trư­ơng ký Hiệp định sơ bộ, ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban Th­ường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Hòa để tiến". Chỉ thị nhấn mạnh việc không ngừng cảnh giác, đề phòng khả năng thực dân Pháp bội ­ước, vì vậy nhân dân ta vẫn phải chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Tại các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, sau khi ký Hiệp định sơ bộ thực dân Pháp ra sức tuyên truyền, xuyên tạc hiệp định, đòi ký hiệp định sơ bộ ở địa ph­ương. Do chưa quán triệt đầy đủ các chủ tr­ương của Ban Th­ường vụ Trung ­ương Đảng và nội dung Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 nên ban chỉ huy chi đội 2 (đóng căn cứ tại Ninh Thuận) đã ký hiệp định địa ph­ương, mất cảnh giác nghiêm trọng, bị quân Pháp lợi dụng đánh úp một số nơi đóng quân của lực l­ượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Lâm Viên đóng tại Ninh Thuận. Riêng đại đội 2 do đồng chí Tr­ương Văn Hoàn chỉ huy đóng ở Trà Dum không cho quân địch vào chỗ đóng quân và tuyên bố: "Nếu quân Pháp vào thì kiên quyết đánh trả". Tháng 6 năm 1946, sau khi chiến khu Đá Trắng (Ninh Thuận) bị quân Pháp bội ­ước tấn công đánh phá, chi đội 2 đ­ược lệnh giải tán, đại đội 2 rút về Phư­ơng Cựu (Ninh Thuận) tạm thời chôn súng, phân tán lực l­ượng để hoạt động bí mật.

Trong thời gian này lực l­ượng vũ trang bị kẹt lại ở La Ba cũng đang gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Sau khi các phòng tuyến bị vỡ, lực l­ượng quân đội và các cơ quan của tỉnh Lâm Viên rút xuống tỉnh Ninh Thuận thì đơn vị này hoàn toàn mất liên lạc, nhiều cán bộ đ­ược cử về Đà Lạt để bắt liên lạc với cơ sở nh­ưng đều bị địch bắt, đơn vị thiếu ngư­ời lãnh đạo. Mặt khác, địch thư­ờng xuyên lùng sục để ngăn chặn các đ­ường tiếp tế, do đó, đơn vị phải giải tán, mỗi ng­ười tìm cách về địa phương làm ăn sinh sống.

Tuy thời gian hoạt động không đ­ược bao lâu nh­ưng cán bộ chiến sĩ lực l­ượng vũ trang ở La Ba đã thể hiện tinh thần yêu nư­ớc, cùng nhau đoàn kết để bảo vệ quê h­ương, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong thời gian đứt liên lạc với cấp trên, đơn vị vẫn tiếp tục tự động công tác, tìm cách bắt liên lạc. Sau khi đơn vị giải tán, nhiều cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục móc nối với các cơ sở cách mạng và hoạt động tích cực.

Để tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân về nội dung Hiệp định sơ bộ, ngày 3 tháng 4 năm 1946, một số cán bộ hoạt động ở Dran đã tranh thủ đ­ược bọn Pháp ở địa ph­ương tổ chức cuộc mít tinh quần chúng công khai. Hơn 600 ngư­ời tham gia cuộc mít tinh trong đó có một số ngư­ời Pháp đã mang cờ đỏ sao vàng diễu hành qua thị trấn. Đại biểu ta đọc diễn văn tại cuộc mít tinh tố cáo thực dân Pháp là xâm l­ược, là kẻ thù của nhân dân Việt Nam và nhấn mạnh Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền... Cuộc mít tinh đã gây ấn t­ượng tốt đẹp và làm cho nhân dân vùng Dran càng phấn khởi tin t­ưởng ở cách mạng. Bọn Pháp hết sức tức tối và bực dọc, chúng phải thừa nhận là "Diễn biến của buổi lễ có ý để củng cố địa vị của chúng (tức Việt Minh), đã không có lợi với chính sách của chúng ta (tức Pháp)". Sau đó chúng đã bắt nhiều cán bộ, đồng bào tham gia cuộc mít tinh.

Quán triệt các chỉ thị của Ban Thư­ờng vụ Trung ­ương Đảng, ngày 12 tháng 4 năm 1946, Ban chấp hành Việt Minh tỉnh Lâm Viên đã họp tại Đá Trắng (Ninh Thuận) để kiểm điểm tình hình, đề ra những chủ trư­ơng và kế hoạch hoạt động, củng cố cơ quan lãnh đạo của Tỉnh. Hội nghị đã quyết định tăng c­ường cán bộ lên hoạt động ở các địa bàn trong tỉnh, quyên góp và trích tiền quỹ để cứu tế cho đồng bào tản cư­. Ủy ban kháng chiến Tỉnh đ­ược củng cố gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Thế Tính đ­ược bầu làm Chủ tịch.

Thi hành quyết định của hội nghị, nhiều cán bộ đã đ­ược đ­ưa lên các địa bàn của tỉnh Lâm Viên để xây dựng cơ sở và chỉ đạo phong trào. Hoạt động ở các nơi, nhất là Đà Lạt đ­ược đẩy mạnh. Đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 5 năm 1946, hàng loạt truyền đơn xuất hiện ở nhiều nơi trong thị xã Đà Lạt. Các loại truyền đơn đều mang nội dung: "Phản đối mọi thủ đoạn bí mật nhằm tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam", "Phản đối những biện pháp khủng bố thực dân", "Phản đối việc phục hồi chủ quyền của Pháp trên đất Lâm Viên", "N­ước Việt nam dân chủ cộng hòa muôn năm". Ngoài ra, truyền đơn còn kêu gọi nhân dân tuyệt đối không đ­ược sử dụng và tàng trữ loại giấy bạc do Ngân hàng Đông Dư­ơng phát hành sau ngày 6 tháng 3 năm 1946. Truyền đơn cũng giải thích hình dạng, khuôn khổ loại giấy bạc cấm l­ưu hành.

Chuẩn bị cho cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), Chính phủ ta và Chính phủ Pháp đã tổ chức hội nghị trù bị tại Đà Lạt. Hội nghị họp từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 12 tháng 5 năm 1946 nh­ưng không đạt đ­ược một thỏa thuận nào vì thực dân Pháp vẫn không từ bỏ âm m­ưu xâm l­ược nư­ớc ta, tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam... nên Hội nghị đã. Trong những ngày đó, thực dân Pháp đã tìm mọi cách ngăn cản nh­ưng phái đoàn ta vẫn gặp gỡ cán bộ, nhân dân để nói rõ tình hình đất n­ước, chủ tr­ương và đ­ường lối của Đảng, động viên nhân dân tích cực tham gia kháng chiến.

Nhằm tiếp tục tăng c­ường chỉ đạo và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở thị xã Đà Lạt, Ủy ban kháng chiến tỉnh Lâm Viên cử đồng chí Trư­ơng Văn Hoàn về hoạt động bí mật tại Phan Rang (Ninh Thuận) để tổ chức đ­ường dây liên lạc theo đ­ường hợp pháp, đ­ưa truyền đơn, tài liệu, bố trí cán bộ, cơ sở lên hoạt động tại Đà Lạt. Nhiều đồng chí đã tìm cách vào làm việc ở nhà máy điện, Nha địa d­ư, khách sạn Palace... Ngoài ra còn bố trí một số cơ sở nắm bộ máy tề ở phư­ờng, xã. Từ đây, hoạt động của công nhân, phụ nữ, thanh niên khá sôi nổi. Đêm 19 tháng 10 năm 1946, nhiều truyền đơn xuất hiện tại Đà Lạt, Cầu Đất, Dran và M’Lọn. Đêm 25 tháng 10, truyền đơn được rải trong các làng và tr­ường học ở Dran. Hoạt động của công nhân nhà máy điện và các tổ công tác có sự phối hợp rất chặt chẽ, nơi nào cần rải truyền đơn nơi đó sẽ cắt điện từ 20 đến 30 phút. Hoạt động diệt tề trừ gian đư­ợc đẩy mạnh, nhiều tên mật thám chỉ điểm đã bị trừng trị.

Ở các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, lúc đầu lực l­ượng vũ trang hoạt động còn phân tán, chư­a có sự chỉ đạo tập trung. Do đó, cuối năm 1946 đại diện Bộ chỉ huy Khu 6 vào Ninh thuận thành lập Trung đoàn 81, lực l­ượng chủ yếu là những cán bộ, chiến sĩ thuộc chi đội 2 tr­ước đây. Trung đoàn có 2 tiểu đoàn, tiểu đoàn 1 đóng ở chiến khu 19, tiểu đoàn 2 đóng ở chiến khu 7. Ngoài ra, còn có một đại đội thuộc Trung đoàn gồm những cán bộ, chiến sĩ đã hoạt động ở Lâm Viên trong những ngày đầu cuộc kháng chiến.

Những hành động khiêu khích, lấn chiếm ở Hải Phòng, Hà Nội và một số nơi khác chứng tỏ thực dân Pháp đã hoàn toàn xóa bỏ Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, Tạm ước 14 tháng 9 và thực tế chúng đang mở rộng chiến tranh xâm l­ược ra cả n­ước ta. Tr­ước tình hình đó, ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 Ban Thư­ờng vụ Trung ư­ơng Đảng đã họp Hội nghị mở rộng và quyết định phát động nhân dân cả nư­ớc tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hội nghị khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến tr­ường kỳ, gian khổ như­ng nhất định thắng lợi... Đ­ường lối chung chỉ đạo cuộc kháng chiến là: "Toàn dân, toàn diện, tr­ường kỳ, tự lực cánh sinh".

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Nhân dân cả n­ước lại đứng lên với tinh thần "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nư­ớc, nhất định không chịu làm nô lệ".

Để tăng c­ường chỉ đạo cuộc kháng chiến ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Trung ương Đảng và Chính phủ cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện. Các mặt công tác để chuẩn bị kháng chiến đ­ược tiến hành tích cực, nhất là sắp xếp về tổ chức và chỉ đạo cho phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ mới. Tháng 1 năm 1947, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam cải tổ Đại đoàn 27 thành Khu 6, phạm vi phụ trách từ đèo Cù Mông đến Phan Thiết; Xứ ủy Trung Bộ thành lập Phân ban cán sự Cực Nam do đồng chí Nguyễn Côn làm Bí th­ư. Từ khi có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ở Cực Nam, mọi mặt công tác đ­ược xúc tiến mạnh. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được tăng cư­ờng vào hoạt động ở Lâm Viên và Đồng Nai Thư­ợng. Phong trào cách mạng ở địa ph­ương bắt đầu có chuyển biến mới.

Chiếm lại Lâm Viên và Đồng Nai Thư­ợng, thực dân Pháp đẩy mạnh các hoạt động quân sự, tăng c­ường lực l­ượng cảnh sát, thám báo, ráo riết khủng bố, bắn giết, bắt nhiều cán bộ và cơ sở cách mạng. Mặt khác, chúng lợi dụng sự mê tín, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số để dụ dỗ mua chuộc, gây thù hằn giữa các dân tộc, chia rẽ ng­ười Kinh với ngư­ời Th­ượng. Trong các ngành kinh tế, giáo dục và y tế chúng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số để thay thế ngư­ời Kinh, nhằm thực hiện âm mư­u "Biến cao nguyên thành một vùng hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Pháp... chấm dứt sự du nhập của người Việt". Bộ máy ngụy quyền đ­ược tổ chức lại, thay thế và tăng c­ường một số tên cầm đầu trong các tổ chức. Ở Đà Lạt, địch bổ nhiệm chức Đốc lý để cai quản thị xã Đà Lạt và kiêm chức đại diện cao ủy Pháp ở Tây Nguyên, d­ưới phư­ờng, xã có bọn lý h­ương, tri huyện Cam Ly là ng­ười dân tộc thiểu số. Ngoài ra, còn có cơ quan mật thám (trực tiếp d­ưới quyền mật thám Nha Trang), cảnh sát, tòa án đệ nhị cấp và các cơ quan chuyên môn của Cao ủy phủ.

Sau khi củng cố tổ chức và tăng cư­ờng thêm cán bộ, tháng 1 năm 1947 đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ và một tiểu đội vũ trang lên Lâm Viên hoạt động. Ở mỗi địa bàn ngoài số cơ sở tại chỗ còn đ­ược tăng c­ường từ một đến hai cán bộ, sự liên lạc giữa thị xã Đà Lạt với các vùng xung quanh đ­ược duy trì thường xuyên.

Cuối tháng 1 năm 1947, do có tên phản bội, đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ, cơ sở bị bắt, địch đ­ưa về giam tại bót gần nhà thờ Đà Lạt (nay là trụ sở Công an thành phố Đà Lạt). Sau 15 ngày bị địch tra tấn dã man, các đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, chúng định đem xử bắn để uy hiếp tinh thần nhân dân. Như­ng với tinh thần dũng cảm, thông minh và đ­ược sự phối hợp chặt chẽ với lực l­ượng bên ngoài, hầu hết các đồng chí trong nhà lao đã v­ượt ngục an toàn, tiếp tục hoạt động.

Với sự phát triển của phong trào, giữa năm 1947, Phân ban cán sự Cực Nam tiếp tục tăng c­ường đồng chí Phan Nh­ư Thạch cán bộ từ Phú Yên vào, đồng chí Trương Văn Hoàn và 3 cán bộ Thị ủy Phan Rang lên Lâm Viên. Tuy chư­a có tổ chức Đảng ở địa ph­ương nh­ưng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đều là đảng viên. Ủy ban kháng chiến và Mặt trận Việt Minh tỉnh Lâm Viên là cơ quan trực tiếp lãnh đạo phong trào. Các địa bàn hoạt động đ­ược chia làm 3 khu: khu 1 từ Đà Lạt đến đèo Dúc La, khu 2 từ đèo Dúc La đến Trạm Hành, khu 3 thuộc vùng Dran. Ủy ban kháng chiến Tỉnh đóng ở chiến khu Danh thuộc khu 2, cách Cầu Đất 10 km về phía Đông Bắc.

Tuy sự liên lạc với Phân ban cán sự Cực Nam và Xứ ủy Trung Bộ gặp nhiều khó khăn, như­ng Ủy ban kháng chiến Tỉnh vẫn thư­ờng xuyên quán triệt và vận dụng các chủ tr­ương, đ­ường lối kháng chiến của Đảng vào tình hình thực tế ở địa ph­ương. Do đó, phong trào cách mạng trong những năm 1947-1948 đạt đ­ược những kết quả đáng kể.

Tại thị xã Đà Lạt, các tổ chức quần chúng và hội biến tư­ớng đ­ược củng cố và phát triển đều khắp ở các phư­ờng, xã. Tổ chức công đoàn ở nhà máy điện đ­ược thành lập với khoảng 20 đoàn viên do đồng chí Đinh Văn Hội phụ trách. Nhiệm vụ của công đoàn là tuyên truyền, vận động công nhân nhà máy tham gia và ủng hộ kháng chiến, phối hợp cắt điện để các lực lư­ợng bên ngoài vào Đà Lạt rải truyền đơn, treo cờ, lấy tin qua máy thu thanh để tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Hoạt động của công đoàn nhà máy đã có ảnh hư­ởng rất lớn, kết nạp thêm đư­ợc nhiều đoàn viên. Tháng 10 năm 1947, trong buổi lễ kết nạp đoàn viên tại nhà số 36 đư­ờng Lò Gạch (nay là đ­ường Hoàng Diệu), địch phát hiện và vây bắt, một cán bộ đã kịp thời đem lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc dấu trên trần nhà, sau đó bị địch bắt cùng một số đồng chí khác. Tr­ước tình hình đó, một số cán bộ đến hoạt động vùng cây số 4, 6, tổ chức công đoàn chia ra từng bộ phận nhỏ và hoạt động phân tán.

Hoạt động của công nhân Nha địa d­ư đ­ược tổ chức theo từng nhóm, từng phân x­ưởng. Tuy địch kiểm soát, theo dõi chặt chẽ, như­ng các đồng chí cán bộ vẫn tìm cách gặp gỡ anh em công nhân để tuyên truyền kháng chiến. Tại phòng mài kẽm cứ mỗi buổi sáng tr­ước giờ làm việc đều tổ chức bí mật chào cờ Tổ quốc, mỗi lần có 7 đến 10 ngư­ời dự, hình thức tuy đơn giản nh­ưng có ý nghĩa rất lớn và đ­ược duy trì trong nhiều năm. Những cơ sở bí mật th­ường xuyên cung cấp bản đồ, tài liệu và tin tức có ý nghĩa quan trọng về chiến l­ược cho các chiến trư­ờng toàn quốc, góp phần làm thất bại âm mư­u và hoạt động quân sự của quân Pháp. Ngoài ra, anh em công nhân còn lấy thuốc chữa bệnh, giấy, mực gửi ra chiến khu. Đêm 13 tháng 3 năm 1947, hai cơ sở đã lấy súng và 1 số đồ dùng trong kho Nha Địa d­ư đem ra chiến khu thoát ly tham gia kháng chiến. Một số cơ sở khác làm ở khách sạn Xẹc (Hôtel Cercle, nay là khu vực Văn phòng Hàng không, đường Hồ Tùng Mậu - Đà Lạt) lấy 10 khẩu súng và 2 kg thuốc chữa bệnh đem về chiến khu.

Công nhân xe lửa trên tuyến đ­ường Tháp Chàm - Đà Lạt th­ường xuyên giữ vững đ­ường dây liên lạc, bảo đảm an toàn việc chuyển l­ương thực, tài liệu và đ­ưa đón cán bộ lên hoạt động tại Lâm Viên. Giữa năm 1947, địch phát hiện và bắt 6 đồng chí giam tại nhà lao Đà Lạt, sau đó trục xuất về Sài Gòn, các đồng chí còn lại vẫn tiếp tục bí mật hoạt động.

Vận dụng hình thức công khai hợp pháp, Tỉnh còn chủ trư­ơng củng cố hội "Phổ hiếu". Đây là một tổ chức từ thiện đ­ược thành lập từ năm 1930 để lo việc ma chay, chôn cất và giúp đỡ những ng­ười không gia đình khi qua đời. Với hình thức hoạt động công khai của Hội, mỗi con đ­ường trong thị xã đư­ợc bố trí hai ng­ười có nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình địch và che dấu cán bộ, do đó, hoạt động của cán bộ đư­ợc dễ dàng. Hầu hết những ngư­ời tham gia hội là công nhân thợ hồ, thợ mộc và ng­ười nghèo. Phư­ơng thức hoạt động của Hội có kết quả tốt, qua đó nâng cao thêm trình độ hiểu biết về kháng chiến cho hội viên, nhiều ngư­ời đã trở thành cơ sở cách mạng.

Tr­ước sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng, Phân ban cán sự Cực Nam cử đồng chí Hồ Ngọc Nam (tức Nam Hán) từ Ninh Thuận lên trực tiếp chỉ đạo phong trào công nhân Đà Lạt. Tháng 7 năm 1947, nhân ngày khai mạc hội chợ, đồng chí đã gặp gỡ một số cán bộ, cơ sở cách mạng tại một gian hàng do cơ sở phụ trách để phổ biến tình hình và chủ trư­ơng công tác của Tỉnh. Tháng 9 năm 1947 đồng chí Hồ Ngọc Nam hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Ngày 10 tháng 10 năm 1947, các đồng chí Trư­ơng Văn Hoàn, Lê Trực cán bộ lãnh đạo của Tỉnh bị địch phục kích bắn bị thư­ơng và sau đó chúng đem thủ tiêu. Ngày 16 tháng 11 năm 1947, trong khi đang làm nhiệm vụ trên đ­ường Cầu Quẹo (nay là đ­ường Phan Đình Phùng) đồng chí Đinh Văn Hội bị tên Sáu Thơm, mật thám khét tiếng gian ác bắn bị thư­ơng, chúng đư­a vào bệnh viện nh­ưng không khai thác được tin tức, đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Ở La Ba, Gia Thạnh tuy xa sự chỉ đạo của Tỉnh, nh­ưng cơ sở cách mạng vẫn phát triển mạnh, kể cả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tháng 10 năm 1947, đồng chí Nguyễn Thế Tính cùng một số cán bộ vào đây để xây dựng và chỉ đạo phong trào.

Sau cuộc phản công Thu - Đông năm 1947 thắng lợi ở Việt Bắc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã chuyển sang giai đoạn mới, phong trào luyện quân, lập công khá rầm rộ trong cả n­ước, lực lư­ợng vũ trang tr­ưởng thành và có nhiều tiến bộ, phong trào ở vùng bị tạm chiếm đư­ợc củng cố. Ở miền Nam, chiến thắng La Ngà của Quân khu 7 (ngày 1 tháng 3 năm 1948) chặn đánh đoàn xe quân sự Pháp từ Sài Gòn lên Đà Lạt, diệt 150 tên, trong đó có tên đại tá Pa-ruýt Tổng tham m­ưu phó quân đội viễn chinh Pháp và bắt sống tên đại tá Xê-ri-nhê (Sérigné) đã tác động và ảnh h­ưởng nhiều đến tinh thần binh lính và ng­ười Pháp ở Đà Lạt.

Không thực hiện đ­ược chủ tr­ương đánh nhanh thắng nhanh, thực dân Pháp lui về thế phòng ngự, lo củng cố cứ điểm và các vùng đã chiếm đ­óng. Ở Cực Nam Trung Bộ, chúng thi hành chính sách dồn dân, vây làng, mở những cuộc hành quân, càn quét nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta.

Tại Lâm Viên, địch tăng cư­ờng hoạt động ở Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Thắng[4] nhằm cắt đường dây liên lạc từ tỉnh Ninh Thuận lên. Chúng mở nhiều cuộc hành quân đánh phá vào các chiến khu, phát triển mạng lư­ới gián điệp ở nội ngoại ô thị xã Đà Lạt. Tháng 3 năm 1948, địch tổ chức càn quét vào La Ba, bắt nhiều cán bộ, cơ sở cách mạng. Trong cuộc chiến đấu chống địch càn quét vào chiến khu, một đồng chí cán bộ tuy bị thư­ơng như­ng vẫn dũng cảm đánh ngăn chặn địch để đồng đội rút lui. Tháng 8 và tháng 9 năm 1948, địch th­ường đánh phá chiến khu và các vùng bàn đạp xung quanh thị xã Đà Lạt. Ngày 25 tháng 9 năm 1948, chúng lại đánh úp chiến khu của Tỉnh, một số đồng chí hy sinh, một số bị bắt, trong đó có đồng chí Phan Như­ Thạch, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Tỉnh. Đồng chí Nguyễn Thế Tính và một tiểu đội vũ trang rút xuống Ninh Thuận. Từ đây, liên lạc của số cán bộ còn lại đang hoạt động ở Lâm Viên với Phân ban cán sự Cực Nam và tỉnh Ninh Thuận bị gián đoạn, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên đang gặp những khó khăn và tổn thất.

Ngày 23 tháng 8 năm 1948, Bộ Tổng tư lệnh ra huấn lệnh về nhiệm vụ chiến lược của miền Nam Trung Bộ, bản huấn lệnh nhấn mạnh tầm quan trọng về vị trí chiến lược của miền Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, các thành phố, hải cảng và các đường giao thông quan trọng. Về nhiệm vụ cụ thể, bản huấn lệnh chỉ rõ: “ Phải xây dựng căn cứ địa vùng sau lưng địch ở Ban Mê Thuột, Đà Lạt, mở rộng hoạt động sang Đông Miên, Hạ Lào. Phương thức hoạt động là: Thành lập các Ban Xung phong bí mật đi sâu vào hoạt động trong lòng địch, phát triển lực lượng trong đồng bào dân tộc ít người, phá vỡ cơ sở ngụy binh, Liên trung đoàn 812 tiến lên hoạt động ở Đà Lạt, Di Linh và vùng sau Đà Lạt”.

Để thống nhất chỉ đạo và phối hợp hoạt động trên chiến trường miền Nam Trung Bộ, tháng 10 năm 1948, Khu 5, Khu 15 và Khu 6 thống nhất thành Liên Khu 5.

Tuy địch đánh phá, khủng bố liên tục nhưng phong trào cách mạng ở Lâm Viên vẫn được giữ vững, nhiều cơ sở cách mạng đã chịu đựng gian khổ, hy sinh để bảo vệ cán bộ. Hoạt động diệt ác trừ gian đã làm cho địch hoảng sợ, đêm 22-3-1948, tên Lê Hội chỉ điểm viên bị trừng trị tại làng Đa Thành. Đêm 12 tháng 8 năm 1948, trên đường từ Đà Lạt đi Đăng Kia, tên lý trưởng xã Phước Thành đã bị đền tội.

Đồn công an Cầu Đất là nơi địch giam giữ nhiều cán bộ, cơ sở cách mạng, tháng 7 năm 1948, một tiểu đội vũ trang đã bí mật tập kích đốt cháy đồn, hàng chục người được giải thoát và trở về địa phương hoạt động.

Mặt dù bị đứt liên lạc, không được sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên nhưng cán bộ, cơ sở cách mạng ở Lâm Viên vẫn tích cực công tác, bám sát quần chúng nhân dân để tuyên truyền kháng chiến, giữ vững phong trào tìm mọi cách để nối lại liên lạc với Phân ban cán sự Cực Nam. Tại Đà Lạt, huyện Chiến Thắng số cán bộ còn lại rất ít[5] nhưng vẫn vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, vừa xây dựng mật khu, vừa bám quần chúng, giữ vững phong trào và lòng tin của nhân dân đối với cách mạng.

Tại tỉnh Đồng Nai Thượng, sau khi rút khỏi phòng tuyến ở cây số 42, Uỷ ban kháng chiến và các cơ quan tỉnh xây dựng chiến khu ở Suối Hộ, suối Nha Đam thuộc tỉnh Bình Thuận. Cuộc sống của các khu tản cư và các cơ quan trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến đã gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn lại chưa chuẩn bị chu đáo nên phần lớn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào tản cư bị đau ốm, thiếu thuốc chữa bệnh và phương tiện làm việc. Mặt khác, địch tăng cường lùng sục, bắt bớ, bắn giết cán bộ và những người tham gia kháng chiến, một số đồng chí cán bộ Uỷ ban kháng chiến Tỉnh hy sinh[6]. Trước tình hình đó, một số cán bộ, nhân dân hoang mang, dao động đã bỏ đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cuộc đấu tranh trong nội bộ các cơ quan tỉnh gay gắt, có người cho rằng trong điều kiện như vậy không thể hoạt động được. Nhưng với lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, nhiều đồng chí đã quyết định phải tiếp tục bám dân, bám địa bàn, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng để tiếp tục hoạt động. Uỷ ban Việt Minh và Uỷ ban kháng chiến Tỉnh quyết định cử đồng chí Nguyễn An, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến ra Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ báo cáo tình hình và xintăng cường cán bộ, vũ khí và tiền. Đồng thời đề ra một số chủ trương:

1. Kiện toàn tổ chức các cơ quan cấp tỉnh và các khu tản cư của nhân dân.

2. Đẩy mạnh sản xuất để đảm bảo đời sống cho cán bộ, bộ đội và nhân dân.

3. Chú ý về công tác giáo dục.

Thực hiện chủ trương trên, Uỷ ban kháng chiến Tỉnh đã kiện toàn tổ chức, bổ sung thêm một số uỷ viên, các tổ chức thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố. Thành lập Ty Công an trên cơ sở sáp nhập lực lượng trinh sát và cảnh sát để bảo vệ trật tự trị an.

Đồng bào kinh ở Đồng Nai Thượng tản cư xuống Bình Thuận trên 1.000 người được tổ chức thành 3 khu: khu 1 gồm đồng bào ở Blao do đồng chí Nguyễn Hoàng ân phụ trách, khu 2 gồm đồng bào ở Di Linh do đồng chí Nguyễn Ngọc Đại phụ trách, khu 3 gồm đồng bào ở Đại Ninh, Lanh Hanh do đồng chí Liệu phụ trách. Uỷ ban kháng chiến tỉnh cử cán bộ xuống các Khu để tổ chức, ổn định đời sống đồng bào, khắc phục tư tưởng tạm thời. Chỉ sau một thời gian ngắn đồng bào đã làm rẫy, ruộng, chăn nuôi, tổ chức đời sống phù hợp với các khu tản cư, trao đổi hàng hoá với đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng, chỉ một số người trở về Di Linh, Blao.

Cùng với việc ổn định đời sống, tỉnh còn chú trọng công tác văn hoá, giáo dục, thành lập phòng Bình dân học vụ ở Khu 1 và Khu 2, hầu hết thanh niên và những người lớn tuổi đều tham gia học bổ túc văn hoá.

Đồng bào ở các khu tản cư đã thật sự yên tâm bám trụ địa bàn, vừa tự giải quyết đời sống, vừa cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến. Ở một số nơi địch càn quét bắt một số đồng bào, chúng tra tấn dã man để truy tìm căn cứ kháng chiến của tỉnh, nhưng không một ai khai báo.

Sau khi thực dân Pháp chiếm lại Đồng Nai Thượng, số cán bộ được bố trí trở về Di Linh hoạt động đã tập hợp được một số quần chúng có cảm tình với cách mạng, ủng hộ kháng chiến, nhưng sau đó bị địch đánh phá và mất liên lạc. Mặt khác, tỉnh tổ chức một số cơ sở bí mật ở Phan Thiết làm nơi liên lạc theo đường hợp pháp để móc nối cơ sở và mua hàng cho chiến khu. Đường dây liên lạc theo đường hợp pháp được tổ chức chu đáo, các loại hàng hoá, thuốc chữa bệnh, tin tức từ Di Linh, B’Lao được chuyển theo đường hợp pháp về Sài Gòn rồi ra Phan Thiết và đưa đến chiến khu tỉnh và các khu tản cư. Ngoài ra, Ban liên lạc, tiếp tế của tỉnh tổ chức một số chị em vào vùng địch tạm chiếm để mua hàng, móc nối cơ sở, lấy tin tức…

Tháng 5 năm 1947, theo quyết định của Phân ban cán sự Cực Nam, đồng chí Nguyễn An trở về cùng với một số cán bộ được tăng cường cho Đồng Nai Thượng. Tỉnh tổ chức hội nghị cán bộ để quán triệt chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và bàn một số công tác của địa phương. Hội nghị đã bầu đồng chí Huỳnh Văn Dương (Hoàng Thúc Tâm) và ông Măng Xăng làm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh. Vấn đề cần phải giải quyết là tìm nguyên liệu để làm công cụ sản xuất, vũ khí để đánh giặc và chuẩn bị lực lượng tiến lên nội địa xây dựng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cuối tháng 5 trung đội tự vệ chiến đấu của tỉnh được thành lập để bảo vệ cơ quan và các khu tản cư.

Cùng với việc củng cố, xây dựng các đoàn thể quần chúng và các khu tản cư, Tỉnh còn tuyển chọn thanh niên bổ sung vào lực lượng vũ trang tỉnh, chuẩn bị điều kiện để đưa lực lượng lên nội địa hoạt động. Tháng 11 năm 1947, cơ quan tỉnh chuyển đến Bàu Nước (Bình Thuận) để trực tiếp chỉ đạo phong trào nội địa và các đội vũ trang tuyên truyền.

Do điều kiện khó khăn và ác liệt của chiến trường nên cán bộ các cơ quan của Tỉnh thường không ổn định, chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1947) đã có 4 lần thay đổi Chủ nhiệm Việt Minh Tỉnh[7]. Nhưng khó khăn lớn nhất của tỉnh là chưa có tổ chức Đảng để lãnh đạo, do đó việc quán triệt các chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng và quá trình vận dụng vào địa phương còn nhiều mặt hạn chế. Với 1 đảng viên tại chỗ, tháng 12 năm 1947 tỉnh Đồng Nai Thượng được tăng cường hai đảng viên và chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập do đồng chí Nguyễn An làm Bí thư, trực thuộc Tỉnh uỷ Bình Thuận. Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển về tổ chức chỉ đạo, là tiền đề cho việc xây dựng tổ chức Đảng ở địa phương ngày càng vững mạnh.

Sau gần 2 năm củng cố và xây dựng, các khu tản cư đã trở thành các khu căn cứ và là những đơn vị hành chính. Cơ quan lãnh đạo của Tỉnh được kiện toàn. Uỷ ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận tăng cường lực lượng, chi viện vũ khí, vật chất để tỉnh Đồng Nai Thượng có đủ điều kiện tổ chức lực lượng lên hoạt động tại tỉnh nhà. Cuối năm 1947, Uỷ ban kháng chiến tỉnh thành lập một trung đội tự vệ để lên hoạt động ở nội địa, sau đó được tăng cường thêm một số cán bộ, chiến sĩ và thành lập 3 đội vũ trang tuyên truyền.

Nhiệm vụ của các đội vũ trang tuyên truyền là đi sâu vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, vận động nhân dân chống xâu thuế, không đi lính cho địch. Ở những nơi phong trào phát triển khá sẽ thành lập chính quyền và các đoàn thể quần chúng.

Sau hơn 1 năm hoạt động, đến tháng 4-1949 phong trào cách mạng ở Đồng Nai Thượng có những chuyển biến đáng kể, các đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng cơ sở chính trị ở 95 buôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Huyện Di linh thành lập được chính quyền cách mạng ở 3 xã: Trường Sơn, Trung Sơn, Lam Sơn[8]. Huyện Đại Ninh thành lập được chính quyền ở 2 xã: Bắc Sơn, Đông Thuận[9]. Ở huyện B’Lao, đội công tác đã vượt qua đường 20 lên xây dựng cơ sở trong đồng bào Mạ. Ở những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng, các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ được hình thành và hoạt động tích cực. Qua thực tế rèn luyện và thử thách, nhiều cán bộ tại chỗ đã trưởng thành nhiều mặt, một số cán bộ dân tộc thiểu số được bổ sung vào các cơ quan của tỉnh.

Cùng với việc xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, tại Di Linh thành lập đội du kích địa phương với trên 30 đội viên. Các em thiếu niên được tuyên truyền giáo dục và thành lập đội tuyên truyền xung phong Lam-B’ri với gần 40 em, hoạt động rất tích cực. Nhiều em sau này được đào tạo trở thành cán bộ lãnh đạo ở địa phương.

Trong thời gian hoạt động ở nội địa, đội tự vệ chiến đấu của tỉnh đã phục kích một toán địch ở La Dày do một tên Pháp chỉ huy, diệt một số tên. Thắng lợi này đã làm cho đồng bào các dân tộc trong vùng rất phấn khởi, cán bộ trong đơn vị đã trưởng thành thêm một bước.

 Ở các khu tản cư, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhất là về tài chính vì địch bao vây kinh tế, đồng bạc bị mất giá, đồng bạc Đông Dương loại 500 đồng bị cấm lưu hành. Trước tình hình đó, Uỷ ban kháng chiến tỉnh chủ trương phát hành tín phiếu riêng của tỉnh để mua bán, trao đổi trong các khu tản cư và đồng bào địa phương trong vùng. Do tuyên truyền chu đáo và phát hành, quản lý chặt chẽ nên đồng bào tin tưởng tiêu dùng. Đến giữa năm 1950, Liên Khu 5 phát hành tín phiếu thống nhất, loại tín phiếu của tỉnh mới thu hồi.

Các hoạt động văn hoá, giáo dục được đẩy mạnh và đạt kết quả tốt. Các ngày lễ lớn trong năm đều tổ chức mít tinh kỷ niệm. Đầu năm 1948, tỉnh phát hành báo “Đồng Tiến” (tiến về Đồng Nai Thượng) mỗi tháng xuất bản 2 kỳ. Nội dung chủ yếu của tờ báo là tuyên truyền các chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, vận động phong trào thi đua ái quốc, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, tỉnh đã thành lập Phòng Quốc dân thiểu số do đồng chí Mai Huy Hoàng phụ trách. Ngoài việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng trong đồng bào dân tộc thiểu số, cơ quan còn đưa người dân tộc xuống học trường văn hoá của tỉnh ở Hàm Tân (Bình Thuận), phần lớn các em sau này trở thành cán bộ, đảng viên trong các đội công tác.

Tại Di Linh, ngoài hệ thống đồn bót và các cơ quan đầu não của tỉnh Đồng Nai Thượng, địch còn xây dựng một nhà tù để giam giữ những cán bộ và cơ sở cách mạng. Chế độ hà khắc của nhà tù đã bắt tù nhân làm việc hết sức nặng nhọc, điều kiện sinh hoạt rất thiếu thốn. Trước tình hình đó, tổ chức bí mật trong nhà lao đã vận động anh em đấu tranh tuyệt thực và đưa 4 yêu sách:

- Tù nhân phải được tắm rửa sau một ngày lao động.

- Thực hiện mỗi ngày làm việc 8 giờ.

- Không được đánh đập tù nhân.

- Phải để cho tù nhân tự lo đời sống của mình.

Ngày đầu giám thị nhà lao không chấp nhận, anh em tiếp tục tuyệt thực và không chịu đi làm, cuối cùng chúng phải chấp nhận 4 yêu sách, cuộc đấu tranh thắng lợi. Từ đó đời sống của anh em bớt phần căng thẳng.

Trong những ngày lễ lớn anh em trong nhà tù bí mật tổ chức kỷ niệm. Vì thiếu phương tiện và để tăng thêm ý nghĩa của buổi lễ, có lần anh em tự lấy máu và ký ninh vàng để nhuộm vải làm cờ đỏ sao vàng…

Hầu hết tù nhân ờ nhà tù Di Linh sau khi mãn hạn tù đều bị địch trục xuất xuống Sài Gòn, nhiều đồng chí đã tìm cách liên lạc với tổ chức, thoát ly ra chiến khu và trở về hoạt động tại các tỉnh Cực Nam.

2. Thành lập Ban cán sự Đảng ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi và đang bước sang giai đoạn mới. Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 đã họp từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949. Hội nghị đánh giá thắng lợi trong 3 năm qua là “Ta càng đánh càng mạnh” trong khi đó “Pháp càng đánh càng thua to”. Hội nghị đề ra phương châm chiến lược trong giai đoạn mới là “đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược và kinh tế quan trọng mà địch đang ra sức củng cố, đồng thời mở rộng mặt trận Lào- Miên nhằm tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, bổ sung lực lượng ta về mọi mặt và xây dựng lực lượng kháng chiến trong vùng bị tạm chiếm”[10].

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị, bộ đội chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ và Liên Khu 5 đã mở nhiều chiến dịch gây cho địch nhiều thiệt hại và làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường ngày càng có lợi cho ta.

Trong các vùng địch tạm chiếm, phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, sinh viên ngày càng mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào công nhân học sinh Sài Gòn- Chợ Lớn. Những cuộc đấu tranh đó đã ảnh hưởng tốt đến phong trào cách mạng Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

Không thực hiện được chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh, thực dân Pháp chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” và củng cố các vùng chiếm đóng. Ở Tây Nguyên, địch tăng cường bắt lính nhất là người dân tộc thiểu số để bổ sung cho các đồn, đẩy mạnh các cuộc hành quân, càn quét.

Tháng 4 năm 1949, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Liên Khu 5 đã kiểm điểm tình hình và thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn mới. Hội nghị đã đề ra 3 nhiệm vụ lớn là: Bảo tồn lực lượng, tiêu hao địch và giữ vững vùng đất tự do rộng lớn. Về nhiệm vụ cụ thể, Nghị quyết chỉ rõ: Phối hợp với chiến trường Bắc bộ và chiến trường chính, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên, cửa biển Đà Nẵng, Cam Ranh… Đánh thật mạnh vào khối ngụy binh, tập trung lực lượng nhằm hướng chính của Tây Nguyên, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Hạ Lào; đánh mạnh và táo bạo sau lưng địch giành cho được những thắng lợi quyết định, tích cực bồi dưỡng và tăng cường lực lượng ta về mọi mặt.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở các tỉnh Cực Nam, ngày 10 tháng 2 năm 1949, Thường vụ Liên Khu uỷ 5 đã họp để xem xét tình hình và đề ra nhiệm vụ của các tỉnh Cực Nam. Hội nghị thấy rằng “Giữa các tỉnh Cực Nam với nhau không có sự liên lạc mật thiết, không có sự phối hợp hành động, trao đổi kinh nghiệm. Mỗi tỉnh đều do hoàn cảnh địa phương mà định chủ trương riêng cho mình” và “Sự chỉ đạo của miền Nam, vì liên lạc khó khăn không được sát, phân ban Cực Nam cũng không đủ điều kiện thành một cấp chỉ đạo. Do đó từ công tác Đảng đến các mặt kháng chiến hành chính, chuyên môn, các tỉnh đều tuỳ tiện chủ trương”[11]. Trong thời gian trước mắt, Nghị quyết nêu rõ: “Lập một Ban chỉ đạo chung cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng”. Về chính quyền, thành lập “Phân ban kháng chiến hành chính cực Nam”. Nhiệm vụ chiến lược của các tỉnh Cực Nam là “Hoạt động ở Nha Trang, Cam Ranh cắt đường giao thông Nha Trang- Sài Gòn và uy hiếp Đà Lạt”[12].

Hội nghị quyết định tiếp tục tăng cường cán bộ, lực lượng, giúp đỡ về mọi mặt và đề ra kế hoạch hoạt động của 2 tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Phương châm chủ yếu là “Đưa các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển chính quyền, tổ chức dân quân và tiến dần đến thành lập bộ đội địa phương hoạt động theo “Đại đội độc lập”[13].

Thực hiện Nghị quyết Thường vụ Liên Khu uỷ 5, tháng 3 năm 1949, Ban Cán sự Cực Nam được thành lập để chỉ đạo các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Tháng 4 năm 1949, thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên gồm đồng chí Lê Tự Nhiên, uỷ viên Ban Cán sự Cực Nam làm Bí thư, đồng chí Lê Đình Cương uỷ viên. Ngày 24 tháng 4 năm 1949, thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Đồng Nai Thượng gồm đồng chí Thu Lâm (tức Trần NgọcTrác) Bí thư, đồng chí Mai Huy Hoàng- Phó Bí thư và đồng chí Lê Đình Nam uỷ viên. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng 2 tỉnh. Lần đầu tiên Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có tổ chức Đảng cao nhất để trực tiếp lãnh đạo phong trào, tiếp thu các chủ trương, đường lối của Đảng để vận dụng vào tình hình thực tế ở địa phương.

Tháng 9 tháng 1949, chiến khu của tỉnh Lâm Viên bị địch đánh úp, một số đồng chí bị bắt, sự liên lạc giữa tỉnh Lâm Viên với Ban cán sự Cực Nam hoàn toàn bị đứt. Những cán bộ còn lại hoạt động ở Đà Lạt và huyện Chiến Thắng tự động công tác, tiếp tục bám sát cơ sở và quần chúng để tuyên truyền, giáo dục, giữ vững phong trào. Giữa các địa bàn thường xuyên liên lạc trao đổi tình hình và phối hợp hoạt động.

Sau một thời gian bị giam ở nhà lao Di Linh, địch đưa đồng chí Phan Như Thạch về Xanh-bờ-noa (tức Chi Lăng). Tại đây, đồng chí đã bí mật liên lạc với cơ sở bên ngoài để nắm tình hình và có ý kiến chỉ đạo. Tháng 9 năm 1949, trên đường đi khám bệnh, lợi dụng sự sơ hở của địch, đồng chí đã dùng còng đánh ngã tên lính và chạy xuống Trại Mát bắt liên lạc với cơ sở ở huyện Chiến Thắng. Đồng chí đã triệu tập những cán bộ đang hoạt động ở Đà Lạt và huyện Chiến Thắng về họp để trao đổi tình hình và bàn kế hoạch công tác. Lúc này các địa bàn của tỉnh có 8 đồng chí hoạt động vẫn nhưng chưa liên lạc được với Ban cán sự Đảng tỉnh và Ban cán sự Cực Nam. Vì vậy, để tiếp tục tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia kháng chiến, hội nghị đã phân công mỗi đồng chí giữ nhiều chức vụ khác nhau và trên danh nghĩa đã thành lập các cơ quan lãnh đạo của tỉnh, thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Thắng như: Uỷ ban kháng chiến hành chính, Ty công an, thông tin…[14]

Với tinh thần kiên trì bám địa bàn, bám sát quần chúng và với phương thức hoạt động thích hợp nên phong trào cách mạng ở Lâm Viên nhanh chóng khôi phục, ảnh hưởng của cách mạng ngày càng sâu rộng trong quần chúng.

Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên tuy mới được thành lập và chưa liên lạc được với những cán bộ đang hoạt động ở nội địa nhưng đã tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị điều kiện trở về địa phương trực tiếp chỉ đạo phong trào. Tháng 9 năm 1949, Ban cán sự Cực Nam quyết định bổ sung đồng chí Trần Oanh vào Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên. Tháng 8 năm 1949, trung đoàn 81 thành lập đại đội Như Hổ[15] tại núi Đồng Bò (Ninh Thuận). Với phương thức hoạt động vũ trang tuyên truyền, đơn vị đi sâu vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số dọc theo trục đường xe lửa Tháp Chàm - Krông Pha và vùng La Bá… để xây dựng cơ sở chính trị, vận động nhân dân tham gia kháng chiến. Cuối năm 1949, đơn vị chuyển xuống vùng Lệ Nghi-Bá Ghe (Bắc Bình Thuận) xây dựng bàn đạp để đưa lực lượng lên hoạt động tại Lâm Viên. Trong thời gian này hai đồng chí trong Ban cán sự Đảng Tỉnh và đồng chí Nguyễn Thạnh trung đoàn phó trung đoàn 81 đến Lệ Nghi-Bá Ghe để trực tiếp chỉ đạo đại đội Như Hổ. Sau một thời gian tuyên truyền vận động, phong trào cách mạng ở đây phát triển khá, chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng được thành lập ở 3 xã: Anh Dũng 1, Anh Dũng 2 và Hạnh Phúc. Vùng bàn đạp này được gọi là huyện Anh Dũng ( Tây Nam Ninh Thuận).

Cuối tháng 12 năm 1949, một mũi của đại đội Như Hổ xoi lên bắt liên lạc được với số cán bộ đang hoạt động ở Đà Lạt. Sau đó, đồng chí Phan Như Thạch xuống Bình Thuận để báo cáo tình hình với Ban cán sự Cực Nam và Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên. Từ đây, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên đã khắc phục được khó khăn về tổ chức và chỉ đạo.

Bị thất bại trên chiến trường Bắc Bộ, thực dân Pháp tập trung củng cố Tây Nguyên, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số chúng đẩy mạnh xây dựng và tổ chức các ổ vũ trang (gọi là Gum)[16] để ngăn chặn các hoạt động của ta.

Ở Lâm Viên, địch tăng cường các hoạt động quân sự, hệ thống đồn bốt được tăng cường và mở rộng. Thị xã Đà Lạt và dọc đường 11 có hàng chục đồn bốt, trong đó có những đồn lớn như: Xanh-bờ-noa (tức Chi Lăng) có trên 500 lính, Ăng-phăng-tơ-rúp (Enfanttroupe khu vực trường đại học Đà Lạt hiện nay) có 200 lính, đồn Trạm Hành có trên 200 lính Thượng. Các đồn Phi-An (FiYan), Liên Khàng, Đại Ninh đều được tăng cường lực lượng. Năm 1950, trường đào tạo sĩ quan ở Huế được chuyển lên Đà Lạt và được đổi thành trường Võ bị liên quân Đà Lạt. Đây là trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy, kỹ thuật lớn nhất của địch.

Về chính trị, địch ra sức tuyên truyền xuyên tạc chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, dùng kinh tế để mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số gây chia rẽ Kinh-Thượng bằng cách nâng đỡ người Thượng trước người Kinh. Tại một số nơi, địch tung lực lượng gián điệp giả danh cán bộ cách mạng len lỏi trong nhân dân để nắm tình hình hoặc có những hành động lừa gạt nhằm làm mất uy tín cán bộ cách mạng.

Được sự thoả thuận của chính phủ Pháp, ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại quyết định tách Tây Nguyên ra khỏi tổ chức hành chính của Việt Nam thành một tổ chức hành chính riêng gọi là Hoàng Triều Cương Thổ do Bảo Đại nắm quyền tối cao. Để đối phó với những âm mưu và hành động của địch, Ban cán sự Cực Nam tiếp tục tăng cường lực lượng lên hoạt động ở Lâm Viên. Cuối tháng 1 năm 1950, sau khi báo cáo tình hình và nhận chỉ thị mới, đồng chí Phan Như Thạch cùng một tiểu đội vũ trang trong đó có đồng chí Lê Trần Thái, Đinh Sỹ Uẩn lên Đà Lạt công tác. Ban cán sự Cực Nam quyết định bổ sung đồng chí Phan Như Thạch vào Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên và thành lập Thị uỷ Đà Lạt gồm các đồng chí: Phan Như Thạch bí thư, đồng chí Lê Mỹ và đồng chí Hoàng Phi Hổ uỷ viên. Đồng thời thành lập ban cán sự Đảng huyện Chiến Thắng do đồng chí Lê Vân làm Bí thư, các đồng chí Trịnh Tá, Lê Bá uỷ viên và đội vũ trang tuyên truyền khu Chiến đấu do đồng chí Đinh Sĩ Uẩn làm đội trưởng kiêm bí thư chi bộ. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng về tổ chức và chỉ đạo đối với phong trào cách mạng ở tỉnh Lâm Viên.

Vượt qua thời kỳ khó khăn trong những năm bị đứt liên lạc, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Viên được củng cố và có nhiều tiến bộ.

Ở Đà Lạt, lực lượng cán bộ được tăng cường và hoạt động có kết quả, xây dựng được trên 400 cơ sở cách mạng trong và ngoài thị xã. Để tuyên truyền rộng rãi chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng trong quần chúng, tại mật khu Suối Tía (Nam Đà Lạt) thị uỷ Đà Lạt chủ trương xuất bản tờ “Tin Đà Lạt”. Tuy hình thức còn đơn giản nhưng nội dung tờ tin khá phong phú gây được ấn tượng tốt trong nhân dân, mỗi tháng tờ Tin ra hai kỳ với số lượng mỗi kỳ trên 100 tờ được phân phát rộng rãi trong cơ sở cách mạng và quần chúng. Hình thức hoạt động công khai hợp pháp cũng được tổ chức và chỉ đạo chặt chẽ. Đường hành lang từ mật khu vào nội Thị được bố trí một cán bộ nữ hoạt động vùng Cam Ly để xây dựng cơ sở chính trị, nắm tình hình và tranh thủ công an địch. Do đó việc đi lại và tiếp tế cho chiến khu được thuận tiện.

Dọc đường 11 từ Trại Mát đến Dran, Krông–Pha cơ sở cách mạng phát triển mạnh, nhiều nơi thành lập được Ban Việt minh xã và các tổ công tác, ngoài ra còn tranh thủ và lôi kéo phần lớn số lý hương có cảm tình với kháng chiến.

Ở khu Chiến Đấu, phong trào được mở ra ở các làng Gia Thạnh, Bằng Tiên và Thạnh Nghĩa ở đường 21 Bis, trong đó Gia Thạnh có một chi bộ gồm 5 đảng viên, tổ chức được Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, bộ máy nguỵ quyền được cảm hoá đi theo cách mạng.

Vùng bàn đạp Lệ Nghi-Bá Ghe và huyện Anh Dũng, phong trào được củng cố và có nhiều tiến bộ, nhiều nơi chính quyền và các đoàn thể ở địa phương đã thường xuyên vận động nhân dân tích cực tham gia sản xuất để cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội, đồng bào bỏ dần các hủ tục mê tín dị đoan. Ngoài lực lượng đại đội Như Hổ, trung đoàn 81 còn tăng cường 4 đội vũ trang tuyên truyền đến hoạt động và xây dựng phong trào. Tuy nhiên, do địa bàn quá rộng nên ở một số nơi địch vẫn lén lút hoạt động, kích động và lôi kéo đồng bào.

Từ khi có tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, công tác phát triển đảng viên và xây dựng Đảng được đẩy mạnh. Đến tháng 6 năm 1950, tỉnh Lâm Viên có 182 đảng viên sinh hoạt trong 6 chi bộ, trong đó có 8 đảng viên nữ, 2 đảng viên người dân tộc thiểu số, 115 đảng viên trong lực lượng vũ trang, 38 đảng viên cơ quan và 29 đảng viên ở cơ sở. Công tác phát triển Đảng tuy có nhiều tiến bộ nhưng số đảng viên được phát triển ở các địa bàn chưa đều, nhất là số đảng viên tại chỗ nên có nơi phong trào phát triển mạnh nhưng vẫn chưa có tổ chức Đảng hoặc đảng viên trực tiếp lãnh đạo.

Để đưa phong trào cách mạng ở thị xã Đà Lạt phát triển kịp với tình hình chung, tháng 6 năm 1950, đồng chí Lê Tự Nhiên, Uỷ viên Ban cán sự Cực Nam, Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên cùng một số cán bộ lên kiểm tra tình hình. Đoàn lên đến Trại Mát thì được tin đồng chí Phan Như Thạch vừa mới hy sinh tại Suối Tía (ngày 12 tháng 6 năm 1950) trong khi địch đánh úp vào mật khu. Trước tình hình đó, đồng chí Lê Tự Nhiên ở lại Đà Lạt tiếp tục chỉ đạo phong trào. Qua kiểm tra thực tế ở Đà Lạt và tỉnh Lâm Viên, Ban cán sự Cực Nam đã có những chủ trương và kế hoạch hoạt động cụ thể nhằm đưa phong trào cách mạng ở Lâm Viên tiến lên một bước mới.

Tại tỉnh Đồng Nai Thượng, từ đầu năm 1948 tỉnh đã đưa các ban Xung phong và các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở các huyện Đại Ninh, Di Linh và BLao. Cùng với việc xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, nhiều nơi đã thành lập được chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng. Nhưng từ tháng 5 năm 1949, do mất cảnh giác nên địch lấy được một số tài liệu và nắm được chủ trương hoạt động của ta. Chúng tổ chức lực lượng đánh vào căn cứ đốt phá kho tàng. Chính quyền thôn xã ở một số nơi bị địch khủng bố, một số cán bộ và đồng bào bị bắt. Trước tình hình đó, Uỷ ban kháng chiến và các cơ quan của Tỉnh từ Đạch rút xuống Giếng Quắp, Tiên Sơn (Bình Thuận).

Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, Liên Khu uỷ 5 và Ban cán sự Cực Nam tiếp tục chỉ đạo và tăng cường lực lượng để đưa phong trào cách mạng ở Đồng Nai Thượng phát triển thêm một bước. Ban cán sự Đảng Tỉnh mới được thành lập nhưng đã nhanh chóng kiện toàn các cơ quan, tổ chức quần chúng của Tỉnh, cử một đồng chí uỷ viên lên hoạt động và trực tiếp chỉ đạo phong trào huyện Di Linh. Ngày 23 tháng 7 năm 1949, Ban cán sự Đảng Tỉnh tổ chức Hội nghị Quân Dân Chính để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm chỉ đạo, bàn kế hoạch hoạt động vùng địch tạm chiếm và công tác vũ trang tuyên truyền.

Để đánh giá toàn diện phong trào cách mạng của địa phương và đề ra những chủ trương phù hợp với tình hình thực tế, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 2 năm 1950, Hội nghị cán bộ Đảng bộ Đồng Nai Thượng được tổ chức. Đại biểu các cơ quan, đoàn thể cấp Tỉnh đã về dự. Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình thế giới, trong nước và địa phương, báo cáo tổng kết tình hình chung và một số công tác trọng tâm trong thời gian tới, báo cáo dự án công tác của các ngành đảng vụ, tuyên huấn, thi đua, tài chính, dân vận và chính quyền. Đánh giá ưu, khuyết điểm trong những năm qua, báo cáo chỉ rõ “Ngoài những thắng lợi phá tề, trừ gian gây cơ sở chính quyền, gieo tin tưởng chiến thắng cho đồng bào thiểu số, nhưng còn khuyết điểm là: cơ sở chính quyền còn nhỏ hẹp, bộ máy chính quyền chưa thích hợp hoàn cảnh đồng bào, chưa gây được cơ sở quần chúng rộng rãi, chưa phát động nhân dân chiến tranh, thiếu cán bộ, lực lượng quân sự chưa đủ nhu cầu chiến lược”[17]. Hội nghị đã đề ra những công tác trọng tâm trước mắt là: “Phát triển củng cố Đảng trong quần chúng mạnh mẽ (chú trọng thiểu số), củng cố gây cơ sở chính quyền nhân dân rộng rãi, tích cực trong vấn đề vận động thành lập các đoàn thể cứu quốc, phát triển gây cơ sở kinh tế nhân dân, cải thiện sinh hoạt, phát triển phong trào dân quân du kích, phát động phong trào nhân dân chiến tranh, tăng cường quân lực đào tạo và cấp dưỡng cán bộ, chú ý cán bộ thiểu số”[18].

Trong thời gian này, thực hiện chủ trương củng cố Tây Nguyên và đối phó với các hoạt động của ta, địch tăng cường các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...

Về quân sự, tiếp tục bắt lính trong đồng bào dân tộc thiểu số để bổ sung cho các đồn, kiểm soát chặt chẽ các trục đường giao thông. Chúng chia các khu vực kiểm soát, hàng tháng tổ chức các cuộc tuần tiễu để bắt xâu, bắt lính, phá kho tàng. Sau khi ta tiêu diệt đồn Lút-xe (Loussert) ngày 25 tháng 10 năm 1949, đồn Gia Bát ngày 6 tháng 1 năm 1950, địch càng đẩy mạnh hoạt động và đóng thêm đồn bốt. Toàn tỉnh Đồng Nai Thượng địch đóng quân ở 9 đồn và 4 bốt gác, với lực lượng 1 tiểu đoàn (trong đó có 96% người dân tộc thiểu số, 3% là người Pháp và Bắc Phi).

Về chính trị, địch chủ trương chia rẽ người Kinh với người Thượng, củng cố và thành lập thêm các tổ chức bù nhìn, chú trọng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số và tích cực dồn làng để phá cơ sở chính quyền ta. Cơ quan chỉ huy cao nhất ở Đồng Nai Thượng là Toà sứ, tên Công sứ[19] người Pháp nắm toàn quyền cai trị cả người Kinh lẫn người Thượng, tên phó sứ người Thượng cai quản đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống tổ chức nguỵ quyền giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số cũng khác nhau. Tại vùng dân tộc, cấp huyện có chức tri huyện và cấp dưới là bang Tá, Chánh Phó Tổng, không có tổ chức xã mà ở mỗi buôn đều có Lý trưởng, Phó lý cai trị. Trong ba huyện Đại Ninh, Di Linh, BLao có hai tri huyện, một Bang Tá, 20 Chánh Phó Tổng và hàng chục Lý trưởng, Phó lý. Đối với người Kinh, địch chỉ tổ chức từng xã, có xã trưởng và Ban hội tề. Ngoài ra, ở cấp Tỉnh còn có các tổ chức trực thuộc như mật thám, tổ chức phòng nhì, cảnh sát và bảo an.

Về kinh tế: Địch chú trọng mở thêm các đồn điền, thường xuyên bắt xâu vào làm trong các đồn điền, các sở. Đối với vùng dân tộc thiểu số, mỗi năm một “bài chỉ” phải nộp 70 đồng và 5 thùng thóc, mỗi tháng phải đi xâu 20 ngày. Ngoài ra, chúng còn dùng nhiều hình thức bóc lột khác để thực hiện âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Về văn hoá xã hội, chủ trương của địch không thay đổi nhưng chúng tích cực lựa chọn đội ngũ tay sai trong đồng bào dân tộc thiểu số, các trường học đều dạy chữ Cơ Ho và tiếng Pháp. Trong các vùng kiểm soát, chúng dùng mọi thủ đoạn để dụ dỗ mua chuộc đồng bào, tích cực tuyên truyền và đề cao vai trò bù nhìn Bảo Đại.

Quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng và xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương, Đảng bộ Đồng Nai thượng đã đề ra những chủ trương đúng đắn thích hợp.

Trước hết tập trung củng cố và kiện toàn các cơ quan đoàn thể của Tỉnh. Thành lập Uỷ ban kháng chiến hành chính ở 3 huyện Đại Ninh, Di Linh và Blao, mỗi huyện có 5 uỷ viên, trong đó 2 uỷ viên là người dân tộc thiểu số. Hoạt động của các cơ quan ban ngành đã có nhiều kết quả tốt, góp phần tuyên truyền vận động thanh niên tham gia kháng chiến và phục vụ tốt sự chỉ đạo của Ban cán sự Đảng tỉnh.

Sự thống nhất ý chí và hành động giữa Quân Dân Chính để thành lập các ban Xung phong, đội Vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở vùng địch tạm chiếm đã có kết quả tốt.

Trung đoàn 812 cử đơn vị 220 lên Đồng Nai Thượng để phối hợp hoạt động. Các đội công tác vừa tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng, vừa hoạt động diệt ác trừ gian, thành lập chính quyền cách mạng. Hướng hoạt động của các đội là đi sâu vào các đồn điền, thị xã và phát triển lên phía tây, nhất là vùng đồng bào Mạ, qua đường 20 liên lạc với bộ phận Đạ Đờn, để có điều kiện liên lạc với lực lượng Khu 7 và Buôn Ma Thuột, tiến tới xây dựng căn cứ Nam Đông Dương. Ngày 25 tháng 10 năm 1949, lực lượng vũ trang đánh đồn Lut-xe, nơi địch dự trữ lương thực, quân cụ để tiếp tế cho các đồn khác. Kết quả ta đã diệt 1 trung đội trong đó có 1 sĩ quan Pháp chỉ huy, làm bị thương nhiều tên, bắt 8 tù binh, thu 1 súng máy, nhiều tiểu liên, súng trường và quân trang, quân dụng. Thắng lợi này đã làm cho địch hoang mang dao động, nhân dân các dân tộc trong tỉnh càng tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ở nhiều nơi, thanh niên dân tộc thiểu số đã thoát ly tham gia các đội công tác.

Thắng lợi về mặt quân sự đã có tác dụng hỗ trợ cho các ban Xung phong và đội vũ trang tuyên truyền hoạt động có kết quả. Đến tháng 2 năm 1950, trong vùng địch tạm chiếm, ta đã thành lập chính quyền cách mạng ở 6 xã thuộc 3 huyện, giải tán 25% hội tề nguỵ quyền, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 50 buôn, ấp, bắt 24 tên tề điệp phản động đưa đi cải tạo, lôi kéo được 10 tên, hàng chục tên tề điệp khác tự ra đầu thú cách mạng. Hướng phía Tây đường 20, ta đã xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào Mạ, một vùng mà thực dân Pháp chưa bao giờ chinh phục được.

Ở những nơi phong trào phát triển mạnh, lực lượng thanh niên địa phương đã hăng hái tham gia dân quân du kích, chỉ tính trong 6 xã đã có 1.110 đội viên, mỗi huyện có 1 tiểu đội tập trung và tuyển một trung đội bổ sung vào các đội vũ trang tuyên truyền. Ở các buôn A Ra, Quao, Sa Lôn, Đạch, tân Bưởi, Kon Hai… du kích địa phương đã có khả năng độc lập tác chiến, đồng bào có ý thức lánh tránh và chống địch càn quét. Những nơi này về sau trở thành vùng du kích của Tỉnh.

Hoạt động của các ngành kinh tế, tài chính đã góp phần giải quyết khó khăn cho đồng bào ở các khu căn cứ, cung cấp cho các cơ quan và các đơn vị hoạt động ở nội địa. Năm 1949, riêng các cơ quan của tỉnh đã làm được 29 mẫu lúa, thu hoạch gần 110 tấn thóc. Tỉnh đã đặt một trạm mậu dịch ở huyện Di Linh để mua bán, trao đổi với đồng bào dân tộc thiểu số và cung cấp cho các đội công tác. Ở các khu căn cứ và những vùng lân cận, đồng bào đã sử dụng đồng bạc Việt Nam và tín phiếu của Tỉnh, hạn chế việc lưu hành đồng bạc Đông Dương. Các cơ quan kinh tế của tỉnh được kiện toàn và tăng thêm lực lượng để bảo đảm hoạt động có hiệu quả hơn.

Công tác tuyên truyền giáo dục được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú. Ngoài tờ báo Đồng Tiến, ngày 1 tháng 10 năm 1949, Ban cán sự Đảng tỉnh cho xuất bản tờ thông tin Đồng Nai Thượng để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, trao đổi kinh nghiệm công tác vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phổ biến tài liệu bình dân học vụ. Ngoài ra, còn in nhiều tài liệu, tranh ảnh để tuyên truyền cho các ngày lễ lớn trong năm. Tờ thông tin Đồng Nai Thượng được phát hành rộng rãi trong tỉnh, các tỉnh Cực Nam, Nam bộ và Đông Nam bộ. Trường quốc dân thiểu số tiếp tục mở các khoá bình dân học vụ cho thanh thiếu niên dân tộc thiểu số, sau mỗi khoá học 8 tháng, các học viên đều biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, được giáo dục và nâng cao thêm nhận thức tư tưởng. Trong các vùng dân tộc thiểu số, đồng bào đã từng bước thực hiện nếp sống mới như làm chuồng gia súc xa nhà, ăn cơm bằng đũa, cắt tóc ngắn, bỏ dần các hủ tục mê tín dị đoan.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, Ban cán sự Đảng tỉnh tuy mới thành lập và còn thiếu cán bộ nhưng đó là tổ chức Đảng cao nhất và đóng vai trò trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương. Được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam, Đảng bộ Đồng Nai Thượng đã quán triệt và vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng vào tình hình thực tế ở địa phương, đồng thời đề ra một số chủ trương như: Tổ chức các đội công tác lên hoạt động ở nội địa, đặc biệt chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát động phong trào tăng gia sản xuất, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, giáo dục…

Đảng bộ cũng đã chú trọng việc đào tạo đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở, đưa một số đồng chí đi học ở Xứ uỷ Nam Bộ. Ở các cơ quan đoàn thể cấp Tỉnh và các đơn vị công tác trên địa bàn huyện đều có đảng viên trực tiếp lãnh đạo. Đầu năm 1949, toàn tỉnh có 20 đảng viên sinh hoạt trong 4 chi bộ (3 chi bộ cơ quan và 1 chi bộ chung cho cả 3 huyện), đến đầu năm 1950, đã có 44 đảng viên sinh hoạt trong 4 chi bộ (1 chi bộ cơ quan, 3 chi bộ ở 3 huyện), trong đó có đảng viên người dân tộc thiểu số và 1 đảng viên nữ. Đó là chưa kể số đảng viên ở các đơn vị thuộc trung đoàn 812 hoạt động trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, Ban cán sự Đảng tỉnh còn mở một lớp học cho 30 cán bộ cấp huyện chưa phải đảng viên. Kết thúc khoá học 10 đồng chí đã được kết nạp vào Đảng. Tất cả cán bộ, đảng viên trong tỉnh được rèn luyện thử thách và đã phát huy vai trò tiền phong gương mẫu trong công tác, có tinh thần chịu đựng hy sinh gian khổ.

Công tác phát triển Đảng tuy có nhiều tiến bộ nhưng cũng chưa đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng còn nhiều mặt hạn chế. Công tác phát triển Đảng chưa chú trọng đúng mức đối với những cán bộ, quần chúng đã được rèn luyện thử thách nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

III. THÀNH LẬP TỈNH LÂM ĐỒNG, ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (10/1950 - 7/1954)

1. Đảng bộ Lâm Đồng tập trung chỉ đạo phong trào cách mạng, tích cực chống địch phản kích (10/1950 - 12/1951)

Phát huy thắng lợi Đông Xuân 1949 - 1950 và những thắng lợi về chính trị, ngoại giao trong những tháng đầu năm 1950, tháng 9 năm 1951 quân và dân ta mở chiến dịch Biên giới giải phóng một vùng đất đai lớn, căn cứ Việt Bắc được củng cố và mở rộng, nối liền đường giao thông liên lạc với quốc tế. Cục diện chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp có sự thay đổi, quân đội ta trưởng thành về mọi mặt, liên tiếp mở những chiến dịch lớn, đẩy địch vào thế ngày càng bị động, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.

Tình hình quốc tế và trong nước có nhiều chuyển biến lớn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951. Đại hội Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương cho cách mạng Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài nhằm đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi. Ý nghĩa quan trọng của Đại hội Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đó là Đại hội đẩy mạnh kháng chiến và xây dựng Đảng lao động Việt Nam”[20]

Thực hiện chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng và nhằm củng cố mở rộng khối đoàn kết toàn dân, từ ngày 3 đến 7 tháng 3 năm 1951, Mặt trận Việt minh và Mặt trận Liên Việt tổ chức đại hội hợp nhất. Đại hội đã thông qua chính cương, điều lệ và tuyên ngôn của Mặt trận. tiếp đến Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia họp vào ngày 11 tháng 3 năm 1951 đã củng cố khối đoàn kết giữa ba dân tộc cùng chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Việc mở rộng Mặt trận đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương là một trong những yếu tố đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Về phía địch, nhằm cứu vãn những khó khăn về kinh tế và giành lại những vị trí quân sự đã mất, thực dân Pháp càng phải lệ thuộc vào đế quốc Mỹ, ngân sách chiến tranh và quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương được Mỹ viện trợ thêm, đưa tổng số quân (gồm quân đội pháp và tay sai) từ gần 30 vạn cuối năm 1950 lên tới gần 33 vạn vào cuối năm 1951. Tháng 12 năm 1950, Chính phủ Pháp đưa Thống chế Tát-xi-nhi, tư lệnh lục quân Tây Âu sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm chức cao uỷ Pháp ở Đông Dương, Tát-xi-nhi đã đưa ra kế hoạch gồm 4 điểm[21] nhằm chuẩn bị cho các cuộc phản công giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Ở Liên khu 5, địch ra sức củng cố và kiểm soát các thành phố, hải cảng có vị trí chiến lược quan trọng như Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, đẩy mạnh chiêu an, dồn dân ở vùng chúng kiểm soát. Đồng thời, tập trung củng cố Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế. Để tăng cường việc kiểm soát, địch dồn dân về dọc các đường giao thông hoặc quanh các đồn bót, tổ chức các đội Hương dũng nhằm thay thế lực lượng đóng ở những tháp canh, cứ điểm, chiếm giữ cả một vùng rộng lớn. Lực lượng Việt binh đoàn phát triển nhanh chóng để thay thế các đơn vị lính Âu Phi đã điều ra chiến trường chính. Trong vùng đồng bào dân tộc ít người, địch tiến hành tổ chức các ổ vũ trang (gum) thành một hệ thống rộng khắp, đồng thời ra sức mua chuộc, gây hằn thù chia rẽ giữa các dân tộc.

Hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng nằm trong địa bàn chiến lược Tây Nguyên và Nam Đông Dương, do đó, thực dân Pháp tập trung củng cố, tăng cường lực lượng để đối phó với các hoạt động của ta.

Về tình hình quân sự, tại tiểu khu Đồng Nai Thượng (Secteur Haut-Đonnai) thuộc sư đoàn 4 Cao Nguyên, lực lượng địch có hai tiểu đoàn đóng tại các chi khu Đà Lạt, Đ’ran, Di Linh Và B’Lao. Dọc các đường giao thông quan trọng, quanh các thị xã, thị trấn và ranh giới với hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận địch đóng thêm nhiều đồn bót, phát triển các ổ vũ trang trong vùng đồng bào dân tộc nhằm tạo ra một mạng lưới kiểm soát ở tất cả các vùng.

Riêng thị xã Đà Lạt, ngoài hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn 4 Cao nguyên còn có một đại đội Com-măng-đô (Commandos) do Pháp chỉ huy; lực lượng công an nguỵ có khoảng 150 tên, 1 tiểu đoàn Việt binh đoàn (trong đó có lính ngự lâm quân). Trong nội ô thị xã địch đóng 17 đồn với 1.200 quân, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, chúng ban hành thiết quân luật 24/24 giờ đối với nội ô và 18/24 giờ đối với vùng ngoại ô.

Ở khu vực huyện Chiến Đấu với dân số gần 10.000 người thuộc 4 tổng, địch đóng 5 đồn có gần 200 quân chủ yếu là người dân tộc, mỗi đồn có từ 1 đến 2 sĩ quan Pháp chỉ huy. Ngoài ra còn có 2 toán quân lưu động đóng tại quận Đ’Ran và Di Linh đảm nhiệm việc tuần tiễu các làng Phi Tách, Kon - Rang. Hoạt động của địch ở vùng này nhằm ngăn chặn các đội vũ trang tuyên truyền của ta từ Krăng-gọ lên, đồng thời kiểm soát vùng ngoại ô thị xã Đà Lạt.

Vùng bàn đạp Anh Dũng (Ninh Thuận), địch tổ chức nhiều đợt càn quét để ngăn chặn lực lượng ta từ Ninh Thuận, Bình Thuận lên Lâm viên, ngoài ra chúng còn sử dụng lực lượng bán vũ trang và tề bí mật để gây rối loạn, chia rẽ giữa cán bộ Kinh và dân tộc.

Về mặt hành chính, nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ các dân tộc, đồng thời để tăng cường việc kiểm soát, địch đã tổ chức hệ thống hành chính riêng cho đồng bào kinh và đồng bào dân tộc. Ở tỉnh Đồng Nai Thượng chúng bố trí công sứ là người Pháp, phó sứ là người dân tộc. Những tổng, làng có đồng bào dân tộc ít người thì người cai quản đều là người dân tộc; riêng thị xã Đà Lạt với dân số khoảng 20.000 người được tổ chức thành 9 phường, đứng đầu cơ quan hành chính thị xã có chánh, phó Đốc lý là người Pháp và Hội đồng thị xã.

Về chính trị, địch tìm mọi cách phát triển đạo giáo, nhất là đạo Thiên chúa và đạo Tin lành trong vùng đồng bào dân tộc, mở các trường đào tạo thầy giảng là người địa phương, lập các nhà giảng đạo, tìm mọi cách lôi kéo những người chưa vào đạo đến nghe giảng, dùng kinh tế để mua chuộc hoặc thúc ép về chính trị. Bên cạnh đó, chúng dùng phim ảnh, phát thanh để tuyên truyền, đề cao chính quyền bù nhìn Bảo Đại, ca ngợi thực dân Pháp, xuyên tạc chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng nhằm gieo rắc tư tưởng cầu an, thiếu tin tưởng cách mạng trong nhân dân. Mạng lưới gián điệp, mật thám được tăng cường hơn trước, có nơi chúng lợi dụng phong trào thanh niên thoát ly ra chiến khu để cài gián điệp vào nắm tình hình. Ngoài ra, ở Đà Lạt còn có đạo Cao Đài, Hội Phật học, Hướng đạo sinh. Hoạt động của một số hội mang tính chất tiến bộ nên địch chú ý theo dõi và tìm cách ngăn cản.

Từ đầu năm 1951, địch thực hiện âm mưu dồn dân ở một số nơi, điển hình là 2 làng Gia Thạnh và Phú Hội dồn về Trại Mát, các làng dân tộc bị dồn ra dọc đường 21. Chúng triệu tập các Chánh, Phó tổng và lý hương về Đ’ran để nhồi nhét các âm mưu thủ đoạn, khuyến khích về vật chất nhằm biến bọn này thành những tên tay sai đắc lực. trong vùng đồng bào dân tộc ít người, bọn gián điệp thường nắm những già làng có uy tín và kiểm tra hoạt động của hội tề.

Về kinh tế, ngoài hình thức bóc lột bằng các thứ thuế đã có từ trước, chúng còn đặt thêm các loại thuế mới như: thuế an ninh, thuế chợ, thuế Bảo Đại… Trong vùng đồng bào dân tộc, chúng tăng cường bắt xâu, phạt vạ, việc vận chuyển và thu hoạch lương thực bị kiểm soát chặt chẽ, hàng tháng chúng hạn chế việc bán gạo, thực phẩm cho đồng bào nhằm gây khó khăn cho việc tiếp tế ra chiến khu.

Những âm mưu và thủ đoạn của địch đã làm cho nhân dân hết sức căm phẫn, đời sống gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Để đánh bại các âm mưu địch và phối hợp với các hoạt động trên chiến trường, Liên khu uỷ 5 đã kịp thời chỉ đạo và tăng cường lực lượng cho các tỉnh cực Nam. Giữa năm 1950, Liên Khu uỷ cử đoàn cán bộ vào kiểm tra tình hình. Sau khi nghe đoàn kiểm tra báo cáo, Liên Khu uỷ 5 nhận định “Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có vị trí chiến lược quan trọng, là chiến trường chính của cực Nam nhưng là chiến trường gây cơ sở” và quyết định sát nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tiếp tục tăng cường cán bộ, lực lượng vũ trang, cung cấp thêm vũ khí, tài chính để Lâm Đồng nhanh chóng kiện toàn tổ chức, đẩy mạnh hoạt động ở nội địa.

Thực hiện chủ trương của Liên Khu uỷ 5, tháng 10 năm 1950, hội nghị sát nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng được tổ chức tại Ô Rô thuộc chiến khu Lê Hồng Phong[22] (Bình Thuận). Tham dự Hội nghị có Ban cán sự, đại biểu các cơ quan Quân - Dân - Chính của hai tỉnh và đại diện Ban cán sự cực Nam. Hội nghị đã nghe báo cáo tình hình Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, thảo luận chương trình hoạt động và một số chủ trương của Liên khu uỷ về công tác vùng địch hậu. Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ trước mắt:

- Đẩy mạnh các hoạt động vùng địch hậu, chú trọng thị xã Đà Lạt. Công tác

diệt ác, trừ gian bảo vệ công tác trị an trong vùng địch phải được tăng cường.

- Củng cố vùng bàn đạp bằng cách xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng, dân quân du kích, hướng dẫn nhân dân và cơ quan tích cực tăng gia sản xuất, tổ chức trao đổi hàng hoá giữa đồng bào kinh và đồng bào dân tộc.

- Thành lập các đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động ở nội địa, hình thức tổ chức phải gọn nhẹ, các đội công tác cần được học tập chính sách dân tộc của Đảng, bồi dưỡng công tác vận động quần chúng.

- Xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, kiện toàn cơ quan chính quyền và chuyên môn của tỉnh để phục vụ cho sự chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Hội nghị bầu Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Nguyễn Xuân - uỷ viên Ban cán sự cực Nam được bầu làm Bí thư Ban cán sự kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh, chính trị viên tỉnh đội, đồng chí Trần Châu - Phó Bí thư Ban cán sự kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh và 11 đồng chí uỷ viên phụ trách quân sự, kinh tài, giao thông, liên lạc.v.v…

Theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ, ngày 22 tháng 2 năm 1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra Nghị định số 73/TTg về việc hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

Thành lập tỉnh Lâm Đồng là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu và phối hợp hoạt động trên chiến trường Nam Đông Dương.

Để thực hiện những chủ trương và nhiệm vụ do Hội nghị hợp nhất đề ra, từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 10 năm 1950, Ban cán sự tỉnh mở Hội nghị kiểm điểm công tác gây cơ sở ở Đồng Nai Thượng trong thời gian trước khi hợp nhất. Dự Hội nghị có các đồng chí thay mặt Ban cán sự, cán bộ dân chính, một số cán bộ và đội viên các đội vũ trang tuyên truyền của 3 huyện Đại Ninh, Di Linh và B’Lao. Hội nghị đã phân tích những âm mưu và thủ đoạn của địch, kiểm điểm tình hình hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền, biểu dương những thành tích đã đạt được, nhất là công tác xây dựng cơ sở trong đồng bào dân tộc ít người, rút kinh nghiệm về công tác xây dựng cơ sở trong thời gian qua. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ chung “Đẩy mạnh cơ sở địch hậu ở vùng Đồng Nai Thượng, nhất là hướng chính để phối hợp với chiến dịch Đông Xuân nhằm xây dựng cơ sở mọi mặt, kiềm chế, tiêu hao địch và chuẩn bị chiến trường cho chủ lực hoạt động”[23]

Những nhiệm vụ cụ thể mà Hội nghị đề ra là:

- Diệt tề trừ gian, phá nguỵ quyền làm tan rã nguỵ binh. Muốn diệt tề trừ gian cần dựa vào nhân dân để điều tra nắm rõ tình hình, phân biệt tề để tranh thủ, cô lập và xử lý. Chú ý công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, chính sách khoan hồng của Chính phủ trong nhân dân, trong các loại tề, vạch rõ âm mưu, tội ác của địch, có biện pháp ly gián, gieo nghi ngờ giữa chúng với nhau. Đối với những tên ngoan cố có nhiều nợ máu với nhân dân đã được giáo dục nhưng không tiến bộ thì kiên quyết trừng trị, nhưng phải giải thích cho quần chúng rõ.

Phá nguỵ quyền không có nghĩa là giết chết hội tề mà phải tìm cách giáo dục thuyết phục, cô lập, cảnh cáo. Đối với những gia đình có người đi lính phải tìm cách gần gũi giúp đỡ, giáo dục để họ kêu gọi con em trở về với gia đình.

- Củng cố phát triển chính quyền đoàn thể, đào tạo cán bộ. Ở những nơi đã xây dựng cơ sở chính trị cần tổ chức Uỷ ban Kháng chiến hành chính xã, với số lượng từ 3 đến 5 người, chú trọng người địa phương. Ngoài số cán bộ hoạt động công khai cần tổ chức một số cán bộ hoạt động bí mật để đề phòng tình hình gặp khó khăn. Củng cố các đoàn thể quần chúng như Hội nông dân, phụ nữ, hình thức tổ chức phải đơn giản, phù hợp với trình độ quần chúng. Thành lập các nhóm trung kiên gồm những người hoạt động tích cực để làm nòng cốt cho phong trào địa phương. Tiếp tục mở các lớp học ngắn ngày cho cán bộ dân tộc, mở trường dạy văn hoá, chính trị với thời gian học từ 1 đến 3 năm, phân công mỗi cán bộ kinh kèm cặp 2 cán bộ dân tộc.

- Phá chính sách gián điệp của địch: Tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của địch, tiếp tục điều tra theo dõi để phân loại và có chính sách đối xử, bố trí một số cán bộ trung kiên vào trong các tổ chức của địch để nắm tình hình.

- Chống địch dồn làng, càn quét bắt xâu: Thường xuyên nắm tình hình ở các đồn, tổ chức canh gác, báo tin để nhân dân cất dấu tài sản, tổ chức tránh lánh địch. đồng thời, đẩy mạnh việc huấn luyện dân quân, lực lượng vũ trang tuyên truyền để chống lại âm mưu càn quét của địch. Giáo dục và tổ chức nhân dân đấu tranh để trở về làng cũ. Ở những nơi địch bắt xâu, phạt vạ, bóc lột nặng nề, phải tuyên truyền để nhân dân hiểu được âm mưu thủ đoạn của địch, đấu tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình. Qua đấu tranh để xây dựng cơ sở, có kế hoạch chỉ đạo phù hợp với trình độ quần chúng và từng bước nâng cao thêm.

- Phát triển dân quân, xây dựng bộ đội địa phương: vận động những người từ 16 đến 40 tuổi tham gia lực lượng dân quân, thành lập từng tiểu đội, tổ chiến đấu, lấy lực lượng trung kiên làm nòng cốt. Tổ chức huấn luyện để nâng cao khả năng đánh du kích bằng các hình thức như: hầm chông, bẫy đá, cung tên có thuốc độc. Từ trong lực lượng dân quân, tuyển chọn thanh niên bổ sung vào bộ đội địa phương hoặc cử đi huấn luyện sau đó trở về địa phương hoạt động. Bộ đội địa phương phải thường xuyên giúp đỡ kèm cặp dân quân tác chiến.

- Khuyến khích, hướng dẫn tăng gia sản xuất, tiết kiệm, bảo vệ mùa màng: ngoài việc hướng dẫn đồng bào tăng gia sản xuất còn phải lo giống, nông cụ, tổ chức các tổ vần công. Hướng dẫn cho cán bộ dân tộc gương mẫu làm trước để nhân dân làm theo. vận động nhân dân chi tiêu tiết kiệm, không nấu rượu bằng gạo.

- Bao vây phá hoại kinh tế địch: tuyên truyền và giáo dục nhân dân phá hoại giao thông để bao vây kinh tế địch, đó là biện pháp có hiệu quả nhất.

- Phát triển củng cố tổ chức Đảng, đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở địch hậu: chú ý kiểm tra tình hình xây dựng và phát triển Đảng trong các đội vũ trang tuyên truyền, cơ quan dân chính và ở các địa phương. Tăng cường công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách, kém phẩm chất. Quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng và phát triển Đảng, kết nạp đảng viên phải đúng điều lệ, thủ tục. Những nơi phong trào cơ sở vững cần xúc tiến mạnh công tác phát triển đảng viên và thành lập chi bộ, các làng ít đảng viên thì tổ chức chi bộ ghép. Mỗi đội vũ trang tuyên truyền thành lập chi bộ để lãnh đạo. Ban cán sự tỉnh trực tiếp chỉ đạo việc thành lập các chi bộ.

Ngoài những nhiệm vụ cụ thể trên, Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho 3 huyện Đại Ninh, Di Linh, B’Lao là phải củng cố vùng bàn đạp để đưa lực lượng lên hoạt động ở thị xã, thị trấn, đồn điền và chuẩn bị chiến trường cho bộ đội chủ lực hoạt động. Tiếp tục đưa thanh niên dân tộc xuống Bình Thuận để học văn hoá và bổ sung cho quân đội, có kế hoạch kèm cặp cán bộ địa phương người dân tộc. Hội nghị còn nêu yêu cầu cụ thể cho các huyện, ở B’Lao tiến hành điều tra tình hình liên lạc với các đồn điền và thị trấn B’Lao. Huyện Di Linh chú trọng việc củng cố huyện, tiến lên liên lạc với đồn điền và thị trấn Di Linh. Huyện Đại Ninh chú ý giải quyết nạn đói cho nhân dân, điều tra tình hình đường 20 và xã Loan, nghiên cứu việc trú quân, lập kho dự trữ để khi cần thiết có thể sử dụng.

Sau Hội nghị, Ban cán sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo việc xây dựng và củng cố các đội vũ trang tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về công tác xây dựng cơ sở vùng địch hậu. Các đội vũ trang tuyên truyền đều tổ chức học tập đường lối và chính sách dân tộc của Đảng, nắm vững 5 bước công tác vùng địch hậu.

Qua một thời gian củng cố và chuẩn bị, Tỉnh đã thành lập 6 đội vũ trang tuyên truyền, mỗi đội từ 20 đến 30 người và phân công hoạt động trên các địa bàn.

Đội thứ nhất, hoạt động ở địa bàn Anh Dũng 1 (Bắc Bình Thuận)

Đội thứ hai, hoạt động ở địa bàn Anh Dũng 2 (Cayan-Xtran Ninh Thuận).

Đội thứ ba, tiến lên hướng tây bắc Đà Lạt, Liên Khàng, La Ba và bắt liên lạc với Đắc Lắc.

Đội thứ tư, hoạt động vùng Mlọn đến Dran.

Đội thứ năm, xây dựng xã Mang Yệu, lên hoạt động vùng Châu Trưng và tạo bàn đạp lên Di Linh.

Đội thứ sáu, hoạt động hướng Blao.

Quyết tâm thực hiện Nghị quyết của Liên uỷ khu 5 và Ban cán sự cực Nam, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng đã tập trung chỉ đạo, xây dựng phong trào cách mạng thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Đấu. Nhiều cán bộ được cấp trên tăng cường đến hoạt động tại Đà Lạt, đường dây liên lạc từ chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) đến vùng bàn đạp huyện Anh Dũng lên D’Ran đã được củng cố và thông suốt. Để sâu sát việc chỉ đạo, đồng chí Lê Tự Nhiên uỷ viên Ban cán sự cực Nam lên Đà Lạt kiểm tra, qua tìm hiểu tình hình, đồng chí đã đề ra một số công việc trước mắt, trong đó có việc củng cố lại sự chỉ đạo của thị xã Đà Lạt. Do đó, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng quyết định củng cố thị uỷ Đà Lạt gồm 7 đồng chí, đồng chí Trần Oanh làm bí thư. Để khắc phục tình trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thị uỷ Đà Lạt tổ chức học tập cho cán bộ, chiến sỹ vừa mới bổ sung, nội dung chủ yếu là xây dựng cơ sở và 5 bước công tác, từ đó các hoạt động ngày mỗi phù hợp hơn, đạt được kết quả cao hơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều nơi trong thị xã Đà Lạt đã móc nối với cơ sở, xây dựng được phong trào trong công nhân, thanh niên, phụ nữ. Tại Nha Địa Dư, nhà máy điện, công nhân xe lửa, lục lộ, nhiều cơ sở bí mật vẫn tiếp tục hoạt động, bảo đảm liên lạc thường xuyên với chiến khu, phát triển thêm nhiều cơ sở mới.

Lực lượng thanh niên Đà Lạt tích cực tham gia công tác bí mật và đội tự vệ nội thị làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tiếp tế cho các chiến khu. Nhiều thanh niên đã tình nguyện thoát ly vào chiến khu tham gia các đội công tác.

Phong trào phụ nữ Đà Lạt được khôi phục, đặc biệt là số chị em buôn bán ở chợ Đà Lạt, tổ chức phụ nữ “Minh Khai” tại chợ được thành lập. Nhiệm vụ của tổ chức này là tuyên truyền vận động chị em buôn bán ở chợ Đà Lạt tham gia và ủng hộ kháng chiến, tiếp tế cho chiến khu. Cuộc vận động quyên góp “Áo mùa đông chiến sỹ” được đông đảo chị em tham gia, chỉ trong một thời gian ngắn hàng trăm áo len, quần áo đã được bí mật chuyển ra chiến khu. Chị em ở chợ đã đấu tranh chống thuế chỗ ngồi và một số loại thuế khác. Đường dây liên lạc giữa Đà Lạt với Phan Rang, Sài Gòn được giữ vững với nhiều hình thức hoạt động công khai hợp pháp. Phong trào phụ nữ chợ Đà Lạt đã có ảnh hưởng rất lớn trong các tầng lớp nhân dân, nhiều gia đình đã bắt đầu có cảm tình và ủng hộ kháng chiến.

Sau khi được thành lập, Thị uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính thị xã Đà Lạt đóng tại chiến khu Suối Tía, chiến khu Suối Cát vùng ngoại ô. đời sống của cán bộ và chiến sỹ đã bớt đi sự khó khăn, thiếu thốn do được cơ sở và nhân dân tiếp tế tương đối đầy đủ. tại chiến khu, Thị uỷ phát hành tờ “Tin tức Đà Lạt” để tuyên truyền kháng chiến. Tờ tin ra mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ phát hành 60 đến 70 bản được bí mật phân phát trong nhân dân. Tuy nội dung và hình thức tờ tin còn đơn giản nhưng đã gây được không khí phấn khởi, tin tưởng cách mạng trong quần chúng.

Tại khu vực huyện Chiến Đấu, sau khi củng cố cơ sở ở La Ba, đội vũ trang tuyên truyền tổ chức thành 5 đội công tác tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc từ Hoạt, Nam Ban, PrơTeng, Tà Nung lên hướng Phi Liêng, Đầm Roòng…, nắm được hội tề và những người có uy tín trong đồng bào, lôi kéo và tranh thủ được một số Gum. Ngoài ra còn xây dựng được một số cơ sở làm việc tại sân bay Liên Khàng để nằm tình hình hoạt động của địch.

Cơ sở cách mạng ở huyện Chiến Thắng tiếp tục được phát triển và hoạt động có hiệu quả, bảo vệ được đường dây liên lạc từ Bình Thuận lên Đà Lạt.

Vùng bàn đạp huyện Anh Dũng được củng cố vững chắc, đại đội Như Hổ vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến bàn đạp vừa tích cực vận động nhân dân tăng gia sản xuất, ủng hộ kháng chiến và thực hiện nếp sống mới.

Đến cuối năm 1950, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Đồng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trên các địa bàn. Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ. Ở nội ô thị xã Đà Lạt kết nạp được 9 đảng viên và thành lập 2 chi bộ, chi bộ cơ quan Thị uỷ ở Chiến khu đã có 37 đảng viên, đặc biệt ở Gia Thạnh, huyện Chiến Đấu đã kết nạp được 1 đảng viên người dân tộc. Các chi bộ đã giữ được nề nếp và chất lượng sinh hoạt, cán bộ, đảng viên nâng cao thêm nhận thức, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu.

Cùng với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, Thị uỷ Đà Lạt còn thực hiện chủ trương đẩy mạnh diệt ác trừ gian, kiên quyết trừng trị những tên có nhiều nợ máu với nhân dân tuy đã được giáo dục nhưng không tiến bộ. Thi hành bản án của Uỷ ban kháng chiến tỉnh Lâm Đồng, các chiến sỹ an ninh đã đột nhập vào thị xã Đà Lạt trừng trị tên chỉ điểm viên Lê Đình Hiệu vào ngày 14 tháng 12 năm 1950. Sự kiện đó đã gây cho bọn địch lo sợ, Đà Lạt không còn là hậu phương an toàn của chúng. Phong trào cách mạng đã có bước phát triển, tác động đến nội bộ địch từ chỗ lục đục mâu thuẫn, đến bắn giết, thanh trừng lẫn nhau.

Thực hiện chủ trương của Liên Khu uỷ 5 và Ban cán sự cực Nam về việc đẩy mạnh công tác vùng địch hậu nhằm phối hợp với các chiến trường trong giai đoạn mới, Ban cán sự tỉnh cử đồng chí Trần Châu, Phó Bí thư Ban cán sự và một số đồng chí lên kiểm tra tình hình, chỉ đạo phong trào Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu. Chủ trương của Ban cán sự là tích cực xây dựng cơ sở, đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian với quyết tâm làm cho “Hồ Đà Lạt dậy sóng”.

Cuối năm 1950, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng có bước chuyển biến mới. tại Đà Lạt, trong các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan dịch vụ… cơ sở hoạt động bí mật được tổ chức rộng khắp, thanh niên, học sinh và công nhân có phong trào thoát ly ra chiến khu gia nhập lực lượng vũ trang, trong và ngoại ô thị xã đã xây dựng được hơn 200 cơ sở cách mạng. Với khí thế sôi nổi và khẩn trương, thị uỷ đã mở lớp huấn luyện cho hơn 200 thanh niên, công nhân, học sinh mới thoát ly ra chiến khu. Sau khoá huấn luyện, thị uỷ thành lập “Đội cảm tử Phan Như Thạch” gồm 36 cán bộ chiến sỹ và tổ chức thành 13 tổ cảm tử hoạt động trong nội ô và ngoại ô Đà Lạt. Sau khi được tăng cường lực lượng, các đội vũ trang tuyên truyền được củng cố và phân công địa bàn hoạt động. Nhiệm vụ của các đội là xây dựng cơ sở cách mạng và diệt tề trừ gian. Đội 58 hoạt động ở Xuân An, Tân Lạc, Nam Thiên; đội 76 hoạt động trong nội thị; đội 77 hoạt động ở cây số 4,6; đội 135 hoạt động ở cây số 7,9; đội 86 hoạt động vùng Trại Hầm, tây Hồ, Trại Mát; đội cảm tử Phan Như Thạch trong thị xã đã theo dõi và phân loại đối tượng có nhiều nợ máu với nhân dân. Đầu tháng 2 năm 1951, tên Hành mật thám ác ôn đã bị trừng trị tại chùa Sư Nữ (Trại Hầm).

Lập thành tích kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ, ngày 11 tháng 5 năm 1951 tổ cảm tử gồm 7 đồng chí, trong đó có đồng chí đội trưởng và đồng chí chính trị viên đã đột nhập vào nhà tên Haasz - mật thám Đà Lạt tại biệt thự Hoa Hồng (nay là nhà số 17 đường Huỳnh Thúc Kháng). Lúc 17 giờ tên Haasz về phát hiện thấy nhiều người định bỏ chạy. Một loạt đạn tiểu liên nổ, tên Haasz đã chết ngay tại sân. Tổ công tác đã thu tài liệu, một số đồ dùng và dùng xe tên Haasz chạy về chiến khu. Bọn địch trong thị xã báo động để vây bắt nhưng các chiến sỹ đã về đến chiến khu an toàn. Tổ cảm tử hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trừng trị tên mật thám cáo già của thực dân Pháp. Để trả thù và trấn an tinh thần binh lính, lúc 19giờ cùng ngày hôm đó, địch đã đưa 20 người đang bị giam giữ tại nhà lao Đà Lạt đưa đi xử bắn tại một khu rừng gần sân bay Cam Ly, 19 người đã hy sinh chỉ còn chị Nguyễn Thị Lan sống sót và bị thương nặng.

Trước hành động tàn bạo dã man của địch. Thị uỷ Đà Lạt chủ trương phát động quần chúng đấu tranh. Ngày 12 tháng 5 hàng ngàn nhân dân Đà Lạt biểu tình lên án hành động dã man và hèn mạt của địch, đòi trừng trị những tên gây tội ác, đòi bồi thường tính mạng cho những người đã hy sinh và chị Nguyễn Thị Lan. Trước sức mạnh của nhân dân, bọn địch không dám đàn áp bắt bớ, chúng phải chấp nhận yêu sách của đồng bào. Ngay tối hôm đó, lực lượng cảm tử đã đột nhập vào thị xã viết khẩu hiệu, rải truyền đơn kêu gọi đồng bào đấu tranh, lên án tội ác dã man của địch, sáng hôm sau bọn địch đi nhặt truyền đơn, xoá khẩu hiệu và nhìn mọi người bằng thái độ hằn học, tức giận. Tại Pháp, Đảng Cộng sản Pháp đã đưa ra vụ thảm sát này ra chất vấn tại Quốc hội, tố cáo Chính phủ Pháp và đòi chấm dứt ngay những hành động tội ác đối với các nước thuộc địa.

Khí thế cách mạng của nhân dân Đà Lạt ngày càng phát triển mạnh mẽ, hàng trăm người đã thoát ly ra chiến khu, nhiều người trước đây còn lưng chừng nay đã có thái độ rõ ràng và nhận rõ bộ mặt tàn bạo của địch. Đội cảm tử hoạt động tích cực, trừng trị những tên có nhiều nợ máu với nhân dân. Ngày 16 tháng 5 năm 1951 tên Hương Kiểm làng Phước Thành bị trừng trị và bắt một số tên để cải tạo; ngày 25 tháng 5 năm 1951, diệt tên mật thám Hồ Minh trước rạp LangBiang (nay là rạp Giải Phóng); ngày 14 tháng 6 năm 1951 trừng trị tên mật thám khét tiếng Nguyễn Văn Thơm (tức Sáu Thơm) và bắn bị thương một tên lính Pháp trước chợ Đà Lạt. Những ngày sau đó các chiến sĩ đội cảm tử còn diệt tên Ngự ở cầu Ông Đạo và nhiều tên khác.

Phát huy truyền thống cách mạng của nhân dân và nhân ngày sinh nhật Bác Hồ, thị uỷ Đà Lạt quyết định vận động nhân dân bãi thị, ngừng đi lại trong ngày 19 tháng 5. Đêm ngày 18 tháng 5 đội cảm tử và các đội công tác đã vào thị xã rải truyền đơn, dán áp phích, treo cờ. Lúc 4 giờ 30 phút ngày 19 tháng 5 các chiến sỹ cảm tử đội đã cho nổ 3 quả lựu đạn ở những đường phố chính trong thị xã và gài 3 quả trước chợ Đà Lạt để cảnh cáo địch. Các tầng lớp nhân dân thị xã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của thị uỷ, cả ngày hôm đó chợ không họp, đường phố vắng người, các cửa hiệu đóng cửa, đến 19 giờ các hoạt động mới trở lại bình thường. Cuộc bãi thị đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với nhân dân Đà Lạt, tuy phải sống dưới sự kìm kẹp của địch nhưng nhân dân vẫn tin tưởng và hướng về Hồ Chủ tịch, hướng về kháng chiến.

Như vậy, chỉ trong vòng 10 ngày của tháng 5 năm 1951, nhiều loại truyền đơn[24] đã xuất hiện tại Đà Lạt. Nội dung truyền đơn kêu gọi nhân dân phối hợp với lực lượng cảm tử đánh địch, gây rối trật tự trị an trong thị xã, lên án những hành động dã man của địch và kêu gọi binh lính địch trở về với nhân dân.

Nhằm đối phó với phong trào cách mạng đang phát triển mạnh, địch điều động 1 tiểu đoàn Com-măng-đô (Commandos) do tên thiếu tá Pháp chỉ huy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Được tăng cường thêm lực lượng, địch bắt đầu khủng bố và bắt giam nhiều cơ sở cách mạng. Trước tình hình đó, thị uỷ Đà Lạt giao nhiệm vụ cho đội cảm tử đột nhập vào thị xã nắm tình hình hoạt động và lên kế hoạch đánh địch. Đêm 27 tháng 6 năm 1951, đồng chí Lê Trần Thái chính trị viên cảm tử đội cùng một tiểu đội vào thị xã và dấu quân tại nhà xác bệnh viện. Sáng hôm sau đồng chí Lê Trần Thái đến nhà một cơ sở (nay là nhà số 9 đường Hai Bà Trưng thành phố Đà Lạt) và gặp đồng chí Hoàng Xuân Sinh, cán bộ tình báo đang hoạt động tại Đà Lạt. Khoảng 9 giờ sáng ngày 28 địch phát hiện được và chúng điều động một đại đội lính Com-măng-đô đến bao vây, trong tình thế đó hai đồng chí đóng chặt cửa và rút lên tầng trên tiêu huỷ tài liệu, con dấu, sau đó mở cửa dùng lựa đạn, súng ngắn đánh trả địch, sau 30 phút chiến đấu hai đồng chí đã tiêu diệt tên quan một, tên đội xếp và 5 lính Com-măng-đô. Quyết không để địch bắt, hai đồng chí đã anh dũng hy sinh bằng hai viên đạn của mình. Bọn địch vừa căm tức vừa hoảng sợ trước tinh thần chiến đấu và dũng cảm hy sinh của hai đồng chí. Sau khi đưa hai thi hài về nhà xác, địch tổ chức lùng sục quanh bệnh viện, đến 11 giờ 30 phút cuộc chiến đấu lần thứ hai diễn ra, tiểu đội cảm tử nằm trong thế bị bao vây nhưng đã dũng cảm vượt ra khỏi nhà xác, vừa chiến đấu, vừa rút lui, đồng chí Nguyễn Lại tiểu đội trưởng đã anh dũng hy sinh. Cuộc chiến đấu tuy không cân sức nhưng các chiến sỹ đội cảm tử đã tiêu diệt thêm 4 tên địch.

Để tỏ lòng thương tiếc 3 đồng chí cảm tử đội đã anh dũng hy sinh, thị uỷ Đà Lạt vận động nhân dân tổ chức đám tang cho các đồng chí. Tuy bị địch tìm mọi cách ngăn cản nhưng quần chúng vừa dùng lý lẽ đấu tranh hợp pháp vừa kiên quyết đòi được vào nhà xác để tiếp nhận thi hài đồng chí của mình, trước sức mạnh của quần chúng, địch phải nhượng bộ để đồng bào tổ chức lễ viếng suốt 3 ngày liền. Quanh thi hài 3 đồng chí, đồng bào đã mang đến những bó hoa tươi thắm được rải lên các loại nước hoa tốt nhất. Bọn địch rất tức giận nhưng không dám hành động gì trước sức mạnh của quần chúng. Đến ngày thứ 3, đồng bào quyên góp tiền mua quan tài, vải liệm và chôn cất 3 đồng chí. Với lòng thương tiếc và khâm phục, hàng ngàn nhân dân Đà Lạt đã tiễn đưa 3 đồng chí đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm và hy sinh anh dũng của các chiến sỹ đội cảm tử đã để lại trong lòng nhân dân niềm tự hào và biết ơn sâu sắc. Nhân dân càng hướng về cách mạng bằng những hành động thiết thực và tin tưởng cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi. Các đội vũ trang tuyên truyền trong tỉnh tổ chức học tập tinh thần chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng của các chiến sỹ đội cảm tử và biến thành hành động trong đấu tranh cách mạng.

Cùng với các phong trào khác, các đoàn thể quần chúng đã hoạt động tích cực, nhất là công nhân, phụ nữ, thanh niên. Đề phòng địch khủng bố, các tổ chức được chia thành nhiều khu vực khác nhau. Khu vực 20 có hội đồng công nhân với 20 hội viên chia thành 9 tổ, 1 tổ nông hội có 18 hội viên, 1 tổ phụ nữ có 10 hội viên. Khu vực 21 có hội đồng công nhân với 14 hội viên, 1 tổ phụ nữ có 39 hội viên… Thị uỷ còn phân công các đồng chí thị uỷ viên và cán bộ xuống từng địa bàn bám sát cơ sở để chỉ đạo phong trào.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ, đến giữa năm 1951 tại Đà Lạt đã có gần 100 đảng viên sinh hoạt ở 5 chi bộ gồm: Nội ô, chợ Đà Lạt, nhà ga xe lửa, Trại Hầm và cây số 4,6,7,9, một tổ Đảng ở trường võ bị Đà Lạt. Để thuận tiện trong việc chỉ đạo, Thị uỷ chia Đà Lạt thành hai khu vực: Nội thị gồm có các vùng Nội ô, ấp Hà Đông, ấp Nghệ Tĩnh, vùng cây số 4,6,7,9; khu vực phân thị gồm: Trại Hầm, ga xe lửa xuống đến vùng Tây Hồ, Trại Mát.

Thắng lợi của ta trên các chiến trường đã làm cho bọn địch hết sức hoang mang lo sợ, đặc biệt số lính địch bị thương ở các nơi được đưa về điều trị ở Đà Lạt đã tỏ ra chán ghét chiến tranh, không tin tưởng vào cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp đang tiến hành. Trong tình hình đó, Thị uỷ Đà Lạt đẩy mạnh công tác binh vận, kêu gọi binh lính trở về với gia đình, tạo điều kiện cho những người làm trong các tổ chức của địch tìm cách chuyển vũ khí, tài liệu quan trọng cho lực lượng kháng chiến. Ngày 28 tháng 6 năm 1951, cơ sở của ta tại trường võ bị Đà Lạt phối hợp với lực lượng bên ngoài đã đưa được 11 máy bộ đàm PRC - 25 ra chiến khu.

Phối hợp với phong trào cách mạng tại thị xã Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở khu vực huyện Chiến Đấu tích cực xây dựng cơ sở cách mạng và hoạt động diệt tề, trừ gian. Ở các buôn đồng bào dân tộc ít người ta đã nắm được phần lớn hội tề, qua tuyên truyền giáo dục nhiều tên thấy được tội lỗi của mình nên có những hành động cầu an lưng chừng. Tuy vậy, lực lượng gum vẫn còn hoạt động ở những làng bị địch kìm kẹp. Được sự ủng hộ của nhân dân, ngày 10 tháng 2 năm 1951, đội vũ trang tuyên truyền đã trừng trị tên Bang tá K’Xuồng tại buôn R’Lơm và bắt một tên xếp đưa ra chiến khu giáo dục, sau này tiến bộ trở thành cơ sở cách mạng.

Tiếp tục hỗ trợ cho phong trào, ngày 27 tháng 2 năm 1951, đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Đinh Sĩ Uẩn chỉ huy đã đánh đồn Ra-đi-ô-pha Công-trắc-tria, trung tâm thông tin phục vụ sân bay Liên Khàng, diệt hai tên Pháp, một số tên nguỵ, thu một số vũ khí và tài liệu. Hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền đã gây được niềm tin tưởng, phấn khởi trong đồng bào dân tộc. Đến giữa năm 1951, đã xây dựng cơ sở cách mạng trong 36 buôn, làng nhất là địa bàn dọc đường 21.

Tháng 8 năm 1951, Ban cán sự tỉnh cử đồng chí Mai Huy Hoàng uỷ viên Ban cán sự và một số cán bộ, chiến sỹ lên tăng cường cho huyện Chiến Đấu. Để mở rộng địa bàn hoạt động, huyện thành lập 5 đội vũ trang tuyên truyền, mỗi đội có 1 chi bộ, đồng chí đội trưởng kiêm bí thư chi bộ. Địa bàn hoạt động chủ yếu là trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Một đội hoạt động ở vùng Hoạt, Nam Ban, Ri Ông Tô; một đội hoạt động vùng Du Hồng (Phú Hội); một đội ở vùng Phi Liêng và một đội ở Đầm Roòng. Sau một thời gian, đội chuyển sang địa bàn phía Bắc sông KRông Nô thì bị lực lượng Gum phục kích giết hại 3 đồng chí trong đội công tác; một đội hoạt động hướng K’Long phát triển qua phía Bắc để liên lạc với Đắc Lắc.

Sau đợt kiểm tra tình hình ở Đà Lạt và huyện Chiến Đấu, Ban cán sự tỉnh đánh giá cao những bước phát triển mới của phong trào. Tuy nhiên, do điều kiện các cấp chỉ đạo ở quá xa, liên lạc khó khăn (21 ngày 1 chuyến) nên sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự cực Nam và Ban cán sự tỉnh còn gặp nhiều khó khăn.

Để giữ vững đường dây liên lạc và bảo vệ vùng bàn đạp, tháng 3 năm 1951, đại đội độc lập miền Bắc Lâm Đồng được thành lập với gần 200 cán bộ, chiến sỹ. Lực lượng nòng cốt của đơn vị là những cán bộ chiến sỹ thuộc đại đội Như Hổ trước đây. Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị là huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, bồi dưỡng công tác xây dựng cơ sở để mỗi cán bộ, chiến sỹ khi được tăng cường cho các đội vũ trang tuyên truyền đều có trình độ quân sự, chính trị, nắm được phương thức xây dựng cơ sở. Đơn vị còn phối hợp với lực lượng địa phương tỉnh Bình Thuận đánh địch bảo vệ mùa màng, bảo vệ chính quyền cách mạng, vận động nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Tháng 4 năm 1951, đại đội đã đánh đồn giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận tiêu diệt nhiều tên địch thu nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có một số vũ khí, phá vỡ thế kìm kẹp và kiểm soát một vùng rộng lớn, giữ vững đường dây liên lạc lên Đà Lạt.

Từng bước xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh, Ban cán sự tỉnh mở trường huấn luyện tân binh tại Tân Bình (Bình Thuận) còn gọi là đơn vị 215. Nhà trường đã mở được 4 khoá huấn luyện, mỗi khoá từ 3 đến 4 tháng, sau khi kết thúc khoá huấn luyện, các chiến sỹ được bổ sung cho các đội vũ trang tuyên truyền đang hoạt động trên địa bàn tỉnh và đại đội Độc lập miền Bắc Lâm Đồng.

Xây dựng bàn đạp là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách mà Hội nghị hợp nhất tỉnh Lâm Đồng đã đề ra. Sau một thời gian xây dựng và củng cố, hai xã Mang Yệu và Chi Lai đã trở thành khu căn cứ của tỉnh, là địa bàn quan trọng của các đội vũ trang tuyên truyền tiến lên hoạt động ở Di Linh, B’Lao. Học tập kinh nghiệm của huyện Tánh Linh (Bình Thuận) về xây dựng phong trào du kích chiến tranh, ở hai xã đã thành lập được chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, hầu hết cán bộ là người tại chỗ, mỗi thôn đều có lực lượng du kích để giữ trật tự trị an. Từ khu căn cứ này, các đội vũ trang tuyên truyền tiến lên xây dựng cơ sở cách mạng ở Tổng K’Dòn và Tổng Tố La. Được sự hướng dẫn của đội vũ trang tuyên truyền, đồng bào các xã Trường Sơn, Trung Sơn, Lam Sơn ở huyện Di Linh đã nhiều lần dời buôn hoặc sơ tán vào rừng để chống chính sách dồn dân và bắt lính của địch. Ở hướng B’Lao, cơ sở cách mạng đã được xây dựng ở hai xã Bắc Sơn, Đinh Sơn và một số buôn ở các xã xung quanh, ở Đại Ninh đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng được cơ sở ở các xã Bố Thuận, Đông Thuận, tranh thủ được bọn hội tề, chỉ còn một số tên ngoan cố chạy vào đồn địch.

Nhìn chung, công tác xây dựng cơ sở vùng địch hậu có tiến bộ, nhiều nơi đã xây dựng được chính quyền cách mạng và đoàn thể quần chúng, cơ sở cách mạng phát triển rộng rãi, tranh thủ được bọn hội tề. Nhưng phong trào chưa thật vững chắc, có nơi mang tính chất hình thức nên bọn địch vẫn tìm mọi cách để chống phá và xây dựng các tổ chức hoạt động bí mật.

Sau gần một năm thực hiện kế hoạch Tát - xi - nhi, địch đã tập trung xây dựng được một số đơn vị chủ lực cơ động và bộ máy nguỵ quyền các cấp, xây dựng hệ thống Boong Ke để giữ trung du và đồng bằng Bắc bộ. Ở vùng tạm chiếm, địch ra sức càn quét để bắt người, cướp của, chúng tập trung lực lượng mở chiến dịch Hoà Bình nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Thế nhưng mọi cố gắng cao nhất của chúng vẫn không tránh khỏi sự thất bại, ngày 23 tháng 2 năm 1952 địch phải rút khỏi tỉnh Hoà Bình.

Ở Liên Khu 5, âm mưu và thủ đoạn của địch tập trung ở hai điểm: Bình định vùng tạm chiếm và xoá vùng tự do của ta. Sau những thất bại trên chiến trường Bắc Bộ, địch tập trung củng cố Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành khu tự trị thuộc Bộ tổng tư lệnh Pháp, xây dựng sư đoàn bộ binh miền núi, phát triển lực lượng Gum. Chúng tăng cường bắt lính để thay thế số lính Âu Phi ở chiến trường chính. Hoạt động của địch ở các tỉnh cực Nam ngày càng ráo riết, cuối năm 1951, sau khi có lệnh tổng động viên của Bảo Đại, địch tiến hành bắt lính một cách ồ ạt, những người từ 17 đến 60 tuổi (trong số đó có cả phụ nữ) đều phải vào lính. Mạng lưới gián điệp phát triển rộng khắp và hoạt động tinh vi hơn, chúng gài dán điệp vào vùng tự do và chiến khu để nắm tình hình, kích động quần chúng.

Trước sự phát triển của phong trào, từ tháng 7 năm 1951, địch ra sức đối phó và tăng cường các hoạt động ở Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu, vùng ngoại ô thị xã Đà Lạt, địch đóng thêm đồn bót ở Xuân An, An Lạc, Ăng Krô - oét, Trại Mát, Đa Lợi, Trại Hầm… Mỗi nơi có 1 đến 2 tiểu đội, lực lượng Com-măng-đô, Việt binh đoàn, sơn quân phối hợp càn quét vùng ngoại ô thị xã. Từ tháng 7 đến tháng 9, mỗi tháng có từ 5 đến 7 cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, có lần chúng huy động một tiểu đoàn càn quét suốt 5 ngày liền ở vùng Xuân Thành, tân Lạc. Ở nội ô, địch đẩy mạnh hoạt động chính trị, tăng cường hệ thống thông tin tuyên truyền nhằm xuyên tạc chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, đề cao chính quyền bù nhìn Bảo Đại, ca ngợi đế quốc Mỹ…

Những tháng cuối năm 1951, địch điều động lực lượng từ Buôn Mê Thuột xuống, từ Đ’Ran, Di Linh lên và phối hợp với lực lượng Việt binh đoàn ở thị xã Đà Lạt, tổ chức hành quân càn quét vào vùng Nam Ban, Hoạt,Riôngtô , Phi Sua… Sau mỗi lần càn quét chúng để lại khoảng một tiểu đội thường xuyên đột nhập vào xóm và phục kích các ngả đường. Thực hiện chủ trương bao vây và cô lập lực lượng kháng chiến, tháng 8 năm 1951, ở Tổng Đinh Văn địch thành lập một trung đội địa phương quân và trang bị 30 súng trường. Ngoài ra, chúng còn phát triển tôn giáo trong đồng bào dân tộc ít người, lập 9 nhà giảng đạo và đào tạo thầy giảng là người dân tộc tại địa phương.

Tình hình địch ở 3 huyện Di Linh, Đại Ninh và B’Lao trong năm 1951 không có gì thay đổi lớn. Về quân sự, địch đóng thêm quân ở một số đồn bót trên các đoạn đường giao thông quan trọng như đường 20, đường 8, tổ chức các cuộc càn quét nhỏ. Lực lượng Gum ngày càng phát triển mạnh, chúng dùng mọi thủ đoạn để lừa phỉnh, mua chuộc nhân dân phát triển tôn giáo, nhất là trong đồng bào dân tộc ít người. Về kinh tế, chúng đẩy mạnh thu thuế, bắt xâu, hàng tháng mỗi “bài chỉ” phải đi xâu từ 15 đến 20 ngày.

Ở vùng bàn đạp huyện Anh Dũng, địch phát triển tề bí mật, mỗi làng tổ chức 1 đến 2 tiểu đội địa phương quân. Để chặn đường tiếp tế của ta từ Bình Thuận lên Đà Lạt, địch tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét vùng Bình Sơn (Bắc Bình Thuận) đốt phá kho tàng, bắn giết nhiều trâu bò của đồng bào. Chúng còn tổ chức lực lượng nhỏ từ 2 đến 3 trung đội phối hợp với địa phương quân tuần tiễu trong các làng K’Chung, K’Gai, Cayan, vì vậy hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền gặp nhiều khó khăn hơn trước.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi về quân sự, chính trị và ngoại giao. tại Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (tháng 10 năm 1951) đã nhận định “Trên chiến trường chính, sau chiến dịch biên giới, chúng ta đã liên tiếp mở 4 chiến dịch thắng lợi, giữ được quyền chủ động. Nhưng chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa thay đổi được tình thế ở đồng bằng Bắc bộ”[25]. Về phía địch tuy phải “Bị động đối phó với các cuộc tấn công lớn của ta. Nhưng chúng tăng cường chiến tranh mọi mặt ở vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, làm cho chiến tranh du kích của ta gặp nhiều khó khăn”[26]. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ và phương châm công tác trong vùng tạm bị chiếm và vùng du kích.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng, Liên Khu uỷ 5 đã thường xuyên chỉ đạo công tác vùng tạm chiếm và đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu nhằm tích cực tranh thủ nhân dân vùng địch hậu, kiên trì xây dựng cơ sở, tạo điều kiện phát triển du kích chiến tranh, phá chính sách bình định của địch.

Được sự chỉ đạo của Liên khu uỷ 5, Ban cán sự Cực Nam đã triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của liên khu và đề ra những chủ trương hoạt động phù hợp với tình hình mỗi tỉnh. Từ ngày 5 đến 10 tháng 9 năm 1951, Ban cán sự cực Nam đã họp để kiểm điểm tình hình trong 9 tháng đầu năm 1951 và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu trong Đông Xuân 1951 - 1952. Hội nghị nhất trí đánh giá “Lâm Đồng đã chú ý hoạt động vùng Tây Bắc là hướng chính và công tác trọng tâm có giành được thắng lợi, nhưng vùng bàn đạp chưa được tiến bộ”[27].

Căn cứ vào tình hình các tỉnh cực Nam, Hội nghị đề ra những nhiệm vụ chủ yếu:

- Tích cực xây dựng Lâm Đồng, phải xem đây là nhiệm vụ chính và trọng tâm của Ban cán sự, trung đoàn 812 và các Tỉnh uỷ Ninh Thuận, Bình Thuận có nhiệm vụ đóng góp phần sức, san bớt cán bộ để xây dựng bàn đạp tiến lên.

- Ra sức chống dồn dân, chiêu an và gây cơ sở địch hậu, kịp thời xây dựng Bình Thuận thành căn cứ địa của Cực Nam.

- Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bảo vệ mùa màng và thực hiện tiết kiệm để tiếp tế tại chỗ.

- Đề cao Mặt trận dân tộc thống nhất, đề cao công tác dân vận.

- Xây dựng chính quyền nhân dân, đặc biệt là chính quyền địch hậu và thượng du.

- Ra sức củng cố Đảng[28]

Ở vùng địch hậu sẽ thực hiện phương châm “kiên trì vận động cách mạng và phương thức vũ trang tuyên truyền, xây dựng đại đội độc lập và bộ đội tập trung”.

Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cụ thể của Lâm Đồng trong giai đoạn trước mắt:

- Đẩy mạnh tăng gia sản xuất ở các vùng bàn đạp và nội địa, đặc biệt chú trọng hướng chính là vùng Tây Bắc và vùng La Ba. Lực lượng vũ trang phải coi nhiệm vụ sản xuất như nhiệm vụ tác chiến. Tích cực vận động đồng bào ít người lao động, sản xuất, đồng thời phải giúp đỡ công cụ và hướng dẫn việc cải tiến canh tác. Riêng cơ quan đóng ở Bình Thuận phải tự túc được lương thực.

- Tích cực xây dựng cơ sở, nâng cao tinh thần cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ, đặc biệt chú ý việc đào hầm bí mật để hoạt động và chỉ đạo địch hậu, phải bảo tồn, xây dựng cơ sở ngày càng lớn mạnh.

Với quyết tâm khắc phục khó khăn và nỗ lực phấn đấu, Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng đã giành được thắng lợi trên một số mặt.

Ở các địa bàn trong tỉnh, địch đánh phá ác liệt, nhất là những tháng cuối năm 1951, nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, nhất là vùng cây số 4, cây số 6, Trại Hầm, Tây Hồ, Tân Lạc, hàng trăm công nhân Nha Địa dư, các nghiệp đoàn bị địch bắt. Chúng tổ chức nhiều cuộc càn quét, đánh úp vào các chiến khu gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất, đời sống gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, thế nhưng hầu hết cán bộ, chiến sỹ các đội công tác vẫn bám trụ địa bàn, bám sát cơ sở để củng cố và xây dựng phong trào cách mạng. Thị uỷ Đà Lạt thường xuyên quan tâm đến đời sống của cán bộ và đồng bào mới thoát ly ra chiến khu. Hoạt động quân sự vẫn được đẩy mạnh. Ngày 7 tháng 7 năm 1951, một đoàn xe lửa từ Đà Lạt xuống Tháp Chàm, khi đến hầm số 1 cách Krông Pha 2km đã bị trúng mìn, một đầu máy bị phá huỷ, ngày 14 tháng 8 năm 1951 một công nhân xe lửa đã giết tên Trần Nhã trên đường Go-ráp-phơ (nay là đường Nguyễn Viết Xuân - Đà Lạt). đêm 27 tháng 10 năm 1951, đội cảm tử đã thi hành bản án của Uỷ ban Kháng chiến hành chính thị xã Đà Lạt, trừng trị tên Hoàng Đình (tức Năm Đình) có nhiều nợ máu với nhân dân.

Các đội công tác của huyện Chiến Thắng gặp nhiều khó khăn, vì địch hoạt động mạnh và tăng cường kiểm soát trên mọi địa bàn, tuy vậy phần lớn cơ sở vẫn tiếp tục giữ vững liên lạc và tiếp tế cho các đội vũ trang tuyên truyền. Riêng ở Định An, tại thôn K’Long A, có một cơ sở phụ nữ, có chồng là người Pháp làm kỹ sư lục lộ nghỉ hưu, dựa vào thế của chồng, Bà đã cung cấp nhiều lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho đội công tác, do đó đã góp phần giúp cho đời sống của cán bộ chiến sỹ hoạt động trong vùng này được bảo đảm hơn. Ở một số buôn đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc Đà Lạt đã lợi dụng sự sơ hở của địch để đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, xây dựng được một số cơ sở và nắm hội tề.

Phong trào thi đua tăng gia sản xuất bước đầu đã giải quyết được khó khăn, các cơ quan tỉnh và lực lượng vũ trang đóng quân ở Bình Thuận đã trồng được 100.000 gốc mì (sắn), 25.000m2 khoai lang và nhiều loại cây lương thực khác. Đồng bào dân tộc ít người được hướng dẫn về kỹ thuật canh tác, được tiếp nhận một số nông cụ nên kết quả sản xuất đạt cao hơn trước, góp phần khắc phục khó khăn về lương thực, bảo đảm việc tiếp tế cho các đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trong vùng địch hậu.

Sau hơn một năm hợp nhất tỉnh, được sự chỉ đạo và chi viện của Liên khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng đã có nhiều chủ trương để chỉ đạo phong trào cách mạng địa phương, đưa phong trào phát triển lên một bước mới, nhất là ở thị xã Đà Lạt và khu vực huyện Chiến Đấu. Vừa xây dựng cơ sở cách mạng, vừa đẩy mạnh hoạt động diệt tề, trừ gian, từ đó đã gây cho địch hoang mang lo sợ, chúng phải tập trung mọi lực lượng để đối phó, Đà Lạt không còn là hậu phương an toàn nhất của chúng. Cơ sở cách mạng phát triển rộng khắp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Ở huyện Chiến đấu, huyện Di Linh, nhiều nơi đã thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể, xây dựng lực lượng dân quân du kích, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội Độc lập miền Bắc Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ, chiến sỹ, lực lượng đội cảm tử Đà Lạt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được nhân dân tin tưởng, cảm phục. Công tác xây dựng và phát triển Đảng cũng được chú trọng, vai trò của chi bộ, đảng viên được phát huy và thực sự làm nòng cốt cho phong trào.

Tuy nhiên, do chưa quán triệt đầy đủ các Nghị quyết, chủ trương của đảng nên việc chỉ đạo của ban cán sự tỉnh còn nhiều thiếu sót, việc tổ chức thực hiện của thị uỷ Đà Lạt, các chi bộ và các đội vũ trang tuyên truyền còn nhiều khuyết nhược điểm. Công tác bí mật còn yếu, nhiều nơi phô trương hình thức, chưa kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và xây dựng cơ sở cách mạng. Vì vậy, 6 tháng cuối năm 1951 địch tập trung đánh phá dẫn đến phong trào cách mạng địa phương gặp nhiều khó khăn, tổn thất.

2. Vận dụng phương châm, phương thức hoạt động góp phần vào thắng lợi của cả nước (1/1952 - 7/1954)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn, sau chiến dịch Hoà Bình, quân đội ta đã trưởng thành thêm một bước, địch ngày càng bị thất bại nặng nề và tìm mọi cách đối phó. đầu năm 1952, Chính phủ Pháp quyết định điều Xa Lăng sang chiến trường Việt Nam và tiếp tục “sự nghiệp” của Tát-xi-nhi. tại chiến trường Bắc Bộ, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm giành lại những vị trí đã mất, chỉ tính từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1952 đã có 20 cuộc hành quân, trong đó có 4 cuộc hành quân với quy mô lớn. Ở những vùng địch kiểm soát, chúng đẩy mạnh bình định, tăng cường bắt lính, bóc lột kinh tế nhằm thực hiện bằng được âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Về chính trị, chúng nhồi nhét lý tưởng quốc gia giả hiệu, đề cao Chính phủ bù nhìn Bảo Đại.

Trong các vùng tạm chiếm, địch tiến hành hoạt động với quy mô lớn và xảo quyệt hơn trước. Từ khi có lệnh tổng động viên của bù nhìn Bảo Đại, chúng tiến hành bắt lính một cách ồ ạt (năm 1952 bắt 10.000, năm 1953 bắt 14.000), tỷ lệ nguỵ binh lên tới 88%, riêng Tây Nguyên chiếm tới 95%. Trong vùng đồng bào dân tộc, địch phát triển mạnh lực lượng Gum, lôi kéo những người có uy tín trong đồng bào và kiểm soát chặt chẽ bọn hội tề, chúng còn thành lập các tổ chức trá hình như “Phụ nữ cứu quốc”, “Thanh niên cứu quốc” nhằm lừa bịp và lôi kéo nhân dân. Ở vùng tự do, địch đẩy mạnh phá hoại kinh tế, tung gián điệp để gây rối, mở những cuộc hành quân càn quét vào chiến khu, thực hiện âm mưu lấn chiếm.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, quân và dân ta đã hoàn thành tốt 3 nhiệm vụ chiến lược: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và phá kế hoạch bình định của địch. Chiến thắng tây Bắc cuối năm 1952 đã đánh bại âm mưu thành lập “xứ Thái tự trị” của thực dân Pháp và đến giữa năm 1953 kế hoạch Tát-xi-nhi hoàn toàn bị phá sản, Tổng chỉ huy Xa Lăng bị triệu hồi về Pháp.

Về công tác vùng sau lưng địch, Nghị quyết lần thứ 2 (tháng 10 năm 1951), lần thứ 3 (tháng 4 năm 1952) của Trung ương Đảng đã đề ra phương châm hoạt động và những nhiệm vụ cụ thể nhằm đưa phong trào phát triển lên một bước mới. Nghị quyết nêu rõ: “Chia vùng sau lưng địch thành hai vùng với phương châm hoạt động khác nhau, vùng tạm bị chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị và kinh tế làm nội dung chính, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và kinh tế”[29]. “Để thực hiện tốt nhiệm vụ và phương châm đó, cán bộ vùng địch phải nắm cho thật vững phương châm đoàn kết dân tộc, kháng chiến lâu dài, lấy công tác dân vận làm gốc”[30].

Quán triệt các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Liên khu uỷ V mở 3 lần Hội nghị (lần thứ nhất tháng 2 năm 1952, lần thứ 2 tháng 10 năm 1952, lần thứ 3 tháng 3 năm 1953) các cuộc Hội nghị đã kiểm điểm tình hình và đề ra chủ trương, nhiệm vụ cụ thể của Liên khu. các Nghị quyết đều chú trọng công tác vùng sau lưng địch, nhằm xây dựng cơ sở cách mạng, mở rộng và củng cố vùng du kích, phát triển du kích chiến tranh.

Hoạt động quân sự trong toàn Liên Khu được đẩy mạnh. Từ đầu năm 1952 đến tháng 4 năm 1953 ở các tỉnh Quảng Nam, Đắclắc, Khánh Hoà đã tiêu diệt và làm bị thương gần 10.000 tên địch, bắt sống trên 1.000 tên, thu nhiều vũ khí, củng cố và bảo vệ được nhiều khu du kích. Phong trào đấu tranh chính trị bắt đầu phát triển ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc biểu tình của 6.000 quần chúng ở Nha Trang chống địch bắt lính và cuộc nổi dậy đấu tranh đòi giải ngũ của 2.600 thanh niên bị địch bắt lính ở Suối Dầu (Nha Trang). Ở vùng tự do, nhờ đẩy mạnh tăng gia sản xuất và từng bước thực hiện chính sách thuế nông nghiệp nên đã từng bước giải quyết những khó khăn về kinh tế và tài chính.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng về công tác xây dựng Đảng, Liên khu uỷ chỉ đạo các tỉnh tổ chức cho đảng viên tham gia các lớp chỉnh huấn để nâng cao nhận thức tư tưởng, lập trường cách mạng.

Nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ phong trào cách mạng ở các tỉnh cực Nam, Ban cán sự cực Nam chủ trương: Phân tán nhỏ lực lượng, đi sâu vào hoạt động trong lòng địch, tập trung lực lượng để bảo vệ mùa màng, chỉnh huấn cán bộ, chiến sỹ nhằm bồi dưỡng tư tưởng kháng chiến lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Tuyển chọn cán bộ, chiến sỹ có phẩm chất, sức khoẻ và được trang bị vũ khí tốt để bám địa bàn, bám quần chúng hoạt động, đưa số cán bộ, chiến sĩ sức khoẻ yếu ra vùng tự do chữa bệnh, học tập. Ban cán sự cực Nam còn tập trung chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh du kích chiến tranh, làm tốt công tác xây dựng Đảng. Qua các lớp chỉnh huấn, cán bộ, đảng viên đã có chuyển biến về nhận thức, nắm vững chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng.

Cuối năm 1951, các tỉnh cực Nam tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ, riêng Lâm Đồng vì điều kiện khó khăn nên chỉ tổ chức Hội nghị tại Tân Bình (Bình Thuận) để kiểm điểm tình hình, bàn kế hoạch thực hiện các Nghị quyết của Liên khu uỷ và Ban cán sự cực Nam.

Hoạt động của địch ở Lâm Đồng trong năm 1952 tuy không có những cuộc hành quân lớn như ở Ninh Thuận, Bình Thuận, nhưng chúng tăng cường nắm dân, bóc lột kinh tế. Lực lượng Gum phát triển rộng khắp và trở thành lính làng, lính đồn, dưới sự chỉ huy của các đồn B’Lao, Tà Xị, La Dày. ở vùng Tây Bắc Đà Lạt, địch phát triển mạnh đạo Thiên chúa, Tin Lành. Các mục sư, thầy giảng được coi là những người có quyền lực trong làng, có khi còn can thiệp vào công việc của bọn hội tề. Sau Hội nghị thầy giảng toàn Tây Nguyên (tháng 3 năm 1952), địch mở thêm 30 nhà giảng đạo, mở trường đào tạo thầy giảng ở Đà Lạt, tổ chức lễ “trở về với Chúa”, sử dụng đạo Tin lành làm công cụ chiêu an đắc lực đối với đồng bào dân tộc ít người.

Chính sách vơ vét bóc lột kinh tế được tiến hành tích cực hơn. Nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt về tài chính, địch ban hành thêm thuế “đảm phụ xã hội an ninh” đối với tất cả những người có nghề nghiệp, kể cả nguỵ quyền, công chức, ngoại kiều, mỗi năm (tuỳ từng đối tượng) phải nộp từ 120 đến 840 đồng. Đặc biệt thuế gián thu đối với các loại hàng hoá tăng cao dẫn đến giá cả thị trường nhảy vọt.

Với những hình thức bóc lột trên đã làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vô cùng khổ cực. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn đế quốc và tay sai ngày càng tăng, nhiều nơi nhân dân đã đấu tranh chống bắt lính, chống chính sách bóc lột kinh tế của địch.

Quán triệt phương châm công tác vùng sau lưng địch, Hội nghị Ban cán sự cực Nam (tháng 9 năm 1951) đã xác định: “Lâm Đồng là chiến trường chính của cực Nam, nhưng là chiến trường xây dựng cơ sở. Vì vậy, phải vận dụng phương châm, phương thức hoạt động mới, kế hoạch hoạt động được tập trung theo hai hướng: hướng chính gồm Đà Lạt, vùng Tây Bắc và bàn đạp Anh Dũng; hướng phụ là Di Linh, B’Lao. Ban cán sự cực Nam, trung đoàn 812 và các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận tập trung chỉ đạo và chi viện cho Lâm Đồng”[31].

Cuối năm 1951, đồng chí Nguyễn Xuân, Uỷ viên Ban cán sự cực Nam và đồng chí Thu Lâm (tức Trần Ngọc Trác), Uỷ viên Thường vụ Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng lên Đà Lạt để phổ biến chủ trương chuyển hướng hoạt động theo tinh thần Hội nghị Ban cán sự cực Nam. Thị uỷ Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền tổ chức học tập chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, các Nghị quyết của Liên Khu uỷ và Bán cán sự cực Nam. Trong tình hình mới, nội dung cơ bản của chủ trương chuyển hướng hoạt động là “thực hiện phương châm kiên trì vận động cách mạng, tiếp tục gây cơ sở”. Để làm tốt công tác xây dựng cơ sở và bảo tồn lực lượng, tất cả các địa bàn trong tỉnh không được hoạt động diệt ác trừ gian ồ ạt, tràn lan như trước, giải tán các đội vũ trang tuyên truyền, đội cảm tử để thành lập các đội xây dựng cơ sở. Tích cực giảm biên chế, phấn đấu đến tháng 4 năm 1952 toàn tỉnh phải giảm trên 500 người. Do đó, các cơ quan tỉnh đội, ban giao liên, ban tiếp tế… tuy không tuyên bố thay đổi tổ chức nhưng trên thực tế đã thu hẹp dần. ban cán sự tỉnh cử các đồng chí uỷ viên xuống từng địa bàn để trực tiếp chỉ đạo.

Sau một thời gian được học tập đường lối, chủ trương của Đảng, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong tỉnh đã nâng cao nhận thức tư tưởng, quán triệt chủ trương chuyển hướng hoạt động. Các đội xây dựng cơ sở được thành lập và hoạt động trên các địa bàn của tỉnh, nhiệm vụ của các đội là tiếp tục móc nối, củng cố những cơ sở cũ, phát triển thêm nhiều cơ sở mới, đặc biệt quan tâm xây dựng cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc ít người, tranh thủ các tín đồ tôn giáo, hội tề và lôi kéo lực lượng Gum, vận dụng phương châm “Cầu chuyền”, dùng cơ sở cũ để phát triển cơ sở mới.

Xuất phát tình hình thực tế ở địa phương, việc vận dụng chủ trương chuyển hướng phương châm, phương hướng hoạt động là hoàn toàn phù hợp. Thực tế trong quá trình phổ biến vì quá nhấn mạnh phương châm kiên trì vận động cách mạng, tránh hoạt động bề nổi, diệt tề trừ gian ồ ạt nên đã làm cho một số cán bộ, chiến sỹ băn khoăn trong việc quán triệt và vận dụng chủ trương.

Tại thị xã Đà Lạt, các đội vũ trang tuyên truyền và cảm tử đội giải tán để thành lập các đội xây dựng cơ sở. Đội 76 hoạt động trong nội thị, đội 58 chia thành hai đội 62 va 64 hoạt động ở Xuân An, Tân Lạc và ấp Ánh Sáng, đội 86 chia thêm đội 22 hoạt động ở phân thị (vùng Trại Hầm, Xanh-Bờ-Noa, Tây Hồ, Trại Mát), riêng đội 153 và đội 77 về sau bị tổn thất nên nhập lại thành đội 77 hoạt động từ cây số 4 đến cây số 9.

Sau một thời gian vận dụng phương châm, phương thức mới, đến tháng 4 năm 1952 ở Đà Lạt đã xây dựng được 92 cơ sở và 207 gia đình kháng chiến, nhiều nhất là vùng Cam Ly, cây số 6, 9, sau những lần bị địch khủng bố, nhiều cơ sở bị vỡ đã dần dần được củng cố, phần lớn nhân dân đều có cảm tình với kháng chiến. Ở một số nơi, nhân dân đấu tranh chống việc thành lập “Hợp tác xã gạo”, “Hợp tác xã rau” của địch.

Ở huyện Chiến Đấu, các đội vũ trang tuyên truyền được tổ chức thành 4 đội xây dựng cơ sở hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc và đội 122 hoạt động trong các làng Kinh dọc đường 20 và đường 11, vận dụng phương thức hoạt động mới, ta đã xây dựng cơ sở ở 24 làng, các cơ sở đều giữ vững liên lạc, làm tốt mọi nhiệm vụ được giao trong các làng Kinh dọc đường 20, xây dựng được 120 cơ sở.

Do nhu cầu của sự chỉ đạo, cuối năm 1951 Ban cán sự tỉnh quyết định thành lập phân ban cán sự miền Tây Bắc Lâm Đồng để chỉ đạo thị xã Đà Lạt và huyện Chiến Đấu. Phân ban cán sự có các đồng chí: Thu Lâm (Bí thư), Mai Huy Hoàng, Đinh Sĩ Uẩn, Nguyễn Tự, sau đó có thêm đồng chí Tống Viết Khánh, đồng chí Trần Oanh về chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) dự chỉnh huấn, đồng chí Thu Lâm kiêm Bí thư Thị uỷ Đà Lạt.

Vùng bàn đạp Anh Dũng có hàng trăm cơ sở cách mạng xây dựng từ trước nhưng chưa được củng cố, bọn tề, Gum bí mật hoạt động nên có một số cơ sở giao động mạnh. Cuối năm 1951, Ban cán sự tỉnh cử một đồng chí uỷ viện đến trực tiếp chỉ đạo phong trào và thành lập một số đội xây dựng cơ sở.

Ở hướng Di Linh, B’Lao từ khu căn cứ thuộc hai xã Mang Yệu, Chi Lai, các đội xây dựng cơ sở tiến lên hoạt động ở các tổng K’Dòn, Nộp. Đội xây dựng cơ sở Chiến Thắng do đồng chí Tám Cảnh (tức Nguyễn Xuân Du) làm đội trưởng kiêm bí thư chi bộ hoạt động ở tổng K’Dòn, đội có 3 đảng viên và hầu hết đội viên là cán bộ dân tộc ít người ở địa phương, vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, đội đã kiên trì bám dân để xây dựng cơ sở cách mạng, những cơ sở công tác tích cực, vững vàng được tổ chức thành lực lượng trung kiên làm nòng cốt cho phong trào, vận động đồng bào đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chống bắt xâu, bắt lính và tiếp tế cho các đội công tác. Ngoài ra, đội còn tranh thủ nắm già làng, qua đó để nắm tề và dùng tề để nắm Gum. Đối với số tề đã được tuyên truyền giáo dục có nhiều tiến bộ, nâng cao giác ngộ sẽ được giao một số công việc như đấu tranh với địch để không bắt dân đi xâu trong ngày mùa, không bắt lính.

Với quyết tâm bám địa bàn, bám dân thực hiện 4 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng tiếng nói), đội công tác đã xây dựng được phong trào cách mạng trong quần chúng, tăng cường đoàn kết giữa cán bộ Kinh với đồng bào dân tộc ít người, giải quyết được lương thực tại chỗ để đội có điều kiện hoạt động. Cuối năm 1952, đội đã xây dựng được cơ sở cách mạng ở các buôn của tổng K’Dòn, Tố La, Kon Hai, Tà Bó, K’Liêng, Đạ Nghịch và hơn 20 buôn của Tổng Châu Trưng.

Nhìn lại một năm vận dụng phương châm và chuyển hướng hoạt động, tình hình Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tốt. các đội công tác đã vận dụng phương châm, phương thức công tác vùng sau lưng địch theo tinh thần các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Liên Khu uỷ V. Đồng thời khắc phục những thiếu sót trước đây như nặng diệt tề trừ gian, chưa tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc ít người. Tuy địch tăng cường càn quét, khủng bố nhưng cán bộ, chiến sỹ vẫn bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Tại Đại hội chiến sỹ thi đua toàn Liên Khu V, năm 1952, Uỷ ban Kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ đã tặng cờ cho đội công tác La Ba với dòng chữ: “Kiên trì bám cơ sở, mở rộng phong trào vận động cách mạng trong đồng bào dân tộc”.

Tuy nhiên, phong trào phát triển còn chậm, rời rạc và chưa đều khắp ở các địa bàn trong tỉnh. công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa được thường xuyên nên một số cán bộ, chiến sỹ chưa quán triệt đầy đủ tư tưởng kháng chiến lâu dài nhưng nhất định thắng lợi và phương châm kiên trì vận động cách mạng.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng có nhiều tiến bộ, mỗi đội xây dựng cơ sở đều có một chi bộ. Riêng các địa phương như Đà Lạt, Anh Dũng, Di Linh đã kết nạp được một số đảng viên tại chỗ, trong đó có đảng viên là người dân tộc.

Để tập trung sự chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa các tỉnh cực Nam, cuối năm 1952, Ban cán sự cực Nam quyết định giao vùng Anh Dũng cho tỉnh Ninh Thuận, giao huyện B’Lao, Di Linh cho tỉnh Bình Thuận. Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng tập trung chỉ đạo địa bàn Đà Lạt và vùng Tây Bắc, Ban cán sự cực Nam trực tiếp chỉ đạo các hướng khác của tỉnh Lâm Đồng.

Những thắng lợi của quân và dân ta ở Hoà Bình, Tây Bắc và các chiến trường khác trong cả nước đã làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Thực dân Pháp càng lấn sâu vào cuộc chiến tranh phi nghĩa, càng bị thất bại nặng nề, nước Pháp đang gặp khó khăn nhiều mặt, nhất là chi phí cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Lực lượng quân viễn chinh và quân nguỵ tăng lên rất nhiều, nhưng đó là một đội quân chán ghét chiến tranh, sa sút tinh thần. Trước tình hình đó, Chính phủ Pháp đang tính đến giải pháp danh dự là tiến hành thương lượng với Chính phủ ta, nhưng thương lượng trên thế mạnh.

Tháng 5 năm 1953, tướng Na-Va, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối quân sự Bắc Đại Tây Dương được cử sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và được giao trách nhiệm tạo ra những thế mạnh về quân sự để làm cơ sở cho giải pháp chính trị. Sau khi nghiên cứu tình hình, Na-va thấy cần phải cứu miền Trung, chặn đường bộ từ Tây Bắc sang Thượng Lào, xuống Hạ Lào và vùng Nam Đông Dương. Kế hoạch Na - va ra đời chia làm hai bước, mà trọng tâm của kế hoạch là tổ chức khối chủ lực tác chiến. Đông Xuân năm 1953 - 1954, lực lượng chủ lực đã tăng lên 100 tiểu đoàn bộ binh, chúng tập trung lực lượng cơ động cho chiến trường Bắc Bộ.

Đối với Liên Khu V, trong suốt năm 1953, địch tích cực củng cố vùng chúng kiểm soát, nhất là vùng Tây Nguyên. Lực lượng nguỵ quân phát triển mạnh để thay thế lực lượng cơ động đã điều ra chiến trường chính, chúng còn tập trung thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ vùng tự do Liên Khu V.

Ở các tỉnh Cực Nam, địch đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế. Bằng những cuộc hành quân càn quét, bắt lính ồ ạt, chỉ tính ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đã có trên 3.000 thanh niên bị bắt vào lính. Lực lượng nguỵ quân được tổ chức thành những đơn vị khinh quân, biệt kích để thay thế cho lực lượng cơ động, lực lượng Gum tiếp tục phát triển trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Về chính trị, chúng ra sức tuyên truyền để mua chuộc, lừa bịp nhân dân như: “Bắt lính cho Bảo Đại, chứ không phải bắt lính cho Tây; Tây đã trả độc lập cho Bảo Đại hoặc Việt Minh và Bảo Đại là một”.

Hoạt động của địch ở Lâm Đồng đã gây cho ta nhiều khó khăn trở ngại. Ở ngoại ô Đà Lạt và vùng Tây Bắc, lực lượng Gum đã trở thành địa phương quân, được bố trí chiếm đóng ở một số đồn bót. Chúng ra sức gây chia rẽ, hằn thù giữa các dân tộc, giữa Kinh và Thượng nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta và nắm quyền kiểm soát các làng. Lính ở các đồn và lực lượng địa phương quân phối hợp tổ chức các cuộc hành quân, trung bình mỗi tháng có 10 cuộc hành quân lớn, nhỏ, hàng tháng, địch tập trung lực lượng Gum về các đồn để luyện tập quân sự.

Hệ thống nguỵ quyền các cấp tiếp tục được củng cố và bổ nhiệm thêm các chức vụ mới. Điều hành bộ máy hành chính, thị xã có thị trưởng và hai phó thị trưởng, Đà Lạt được chia ra thành 10 khu phố. Ngoài ra còn có hội đồng thị xã, nhưng thành phần đa số là tư sản nên mâu thuẫn nội bộ của bọn tay sai ngày càng gay gắt giữa bọn thân Pháp và bọn thân Mỹ.

 Chính sách bóc lột kinh tế bằng các hình thức xâu, thuế ngày càng nặng nề hơn, các thứ thuế đều tăng từ 30 đến 50%, trong vùng đồng bào dân tộc ít người thuế thân tăng từ 100 đồng lên 500 đồng (riêng trẻ em cũng phải đóng 50 đồng). Mỗi tháng một “bài chỉ” phải nộp thêm 20 đồng để lấy giấy chứng nhận của Bảo Đại và đi xâu từ 15 đến 20 ngày. Ngoài ra chúng còn đặt thêm thuế rẫy, thuế đốt than và đóng tiền xe cho bọn tề mỗi lần đi lên huyện, lên đồn, có khi chúng còn vu khống cả làng làm Việt Minh để phạt vạ. Những hình thức bóc lột, áp bức của địch đã làm cho đời sống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vô cùng cực khổ.

Phát huy những kết quả đã đạt được trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức công tác, cán bộ, chiến sỹ các đội xây dựng cơ sở vẫn kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Năm 1953 là thời kỳ gặp nhiều khó khăn vì địch đánh phá ác liệt, các đội công tác phải tự giải quyết vấn đề lương thực, có khi phải ăn các loại rau rừng[32] để tiếp tục hoạt động, móc nối cơ sở. Đội 77 gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc ít người nên đã đứng chân trên địa bàn người Kinh và thông qua những cơ sở người Kinh trong việc mua bán, trao đổi với đồng bào dân tộc để xây dựng cơ sở, tranh thủ tầng lớp trên và bọn Gum ở các làng. Có đội công tác bị hy sinh gần hết chỉ còn lại đồng chí đội trưởng vẫn tiếp tục bám trụ địa bàn, xây dựng cơ sở. Các chiến khu của Thị ủy Đà Lạt và nơi đóng quân của các đội công tác thường xuyên phải di chuyển vì địch lùng sục, càn quét.

Vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, cán bộ, chiến sỹ các đội xây dựng cơ sở đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh chống địch bằng nhiều hình thức. tại thị xã Đà Lạt, phong trào đấu tranh chống bắt lính phát triển mạnh, nhiều chị em quyết tâm “nếu chồng bị bắt đi lính thì sẽ đốt nhà và bồng con đi theo”, một số thanh niên cố tình gây thương tật để khỏi bị bắt lính. Trong tháng 7 năm 1953, địch dự định bắt 105 người nhưng chỉ bắt được 60 người, khi đưa xuống Sài Gòn thì hầu hết đã bỏ trốn chỉ còn lại 17 người. Trong khi đó, những binh lính bị thương ở các chiến trường được đưa về điều trị tại Đà Lạt đã bộc lộ tư tưởng chán ghét chiến tranh, hoang mang giao động, ảnh hưởng đến tinh thần quân lính đang huấn luyện tại đây, có người tìm cách bắt liên lạc với cơ sở để thoát ly ra chiến khu, hoặc cố tình vi phạm kỷ luật để khỏi ra mặt trận. Riêng lực lượng hội, tề có tư tưởng lưng chừng, cố tình làm chậm trễ hoặc không thi hành một số chủ trương của địch.

Chiến thắng của quân và dân ta trên các chiến trường đã có tác động lớn đến tinh thần của các tầng lớp nhân dân Đà Lạt, nhiều hình thức đấu tranh đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Đối với luận điệu tuyên truyền “độc lập” giả hiệu của địch, đồng bào thường mỉa mai “độc lập gì mà còn Tây”, “độc lập gì mà còn sưu cao thuế nặng”. Nhiều thủ đoạn bóc lột kinh tế đã bị nhân dân kịch liệt phản đối như đóng thuế chợ, góp tiền đinh (150 đồng/người). Ở một số vùng trồng rau, đồng bào không mua phân viện trợ Mỹ. Trong các kỳ bầu cử hội đồng thị xã, khu phố, nhiều người không chịu đi bỏ phiếu hoặc bầu cử không hợp lệ. Những nơi địch dồn dân, đồng bào đấu tranh đòi trả chi phí, cuối cùng địch phải nhượng bộ.

Phong trào đấu tranh của công nhân tại thị xã Đà Lạt cũng có bước phát triển, tiêu biểu như công nhân ngành xe lửa đấu tranh đòi tăng lương 13%, thực hiện ngày làm 8 giờ; công nhân ở ga ra Mạc-ti-nét (Martinete) đòi tăng lương 20%, một số thợ máy đem trả thẻ môn bài cho địch.

Cuối năm 1953 ở Đà Lạt, D’Ran, M’Lọn các đội xây dựng cơ sở đã tổ chức và củng cố được 294 hội viên cứu quốc, trong đó thành phần công nhân chiếm 30%, nông dân 52%. Đồng thời, vận dụng nhiều hình thức tổ chức thích hợp để tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia ủng hộ kháng chiến. Tại thị xã Đà Lạt, có trên 200 hội viên cứu quốc, trong đó có nhiều hội viên là tín đồ tôn giáo hoặc nguỵ quân, nguỵ quyền, qua hoạt động đã phát triển được 11 đảng viên. các tổ chức công khai hợp pháp như hội thợ mộc, thợ hồ, hội phổ hiếu, hội vần công… đã tập hợp đông đảo quần chúng tham gia. Trong nội ô thị xã Đà Lạt và vùng Trại Hầm, Xuân An, Tân Lạc, cây số 4, 6, 7, 9 là những địa bàn có phong trào phát triển mạnh nhất. Ở D’Ran, M’lọn phong trào tuy phát triển chậm nhưng có chất lượng cao. tại Lạc Lâm, Lạc Nghĩa, hầu hết cơ sở cũ được củng cố và phát triển thêm cơ sở mới.

Nhằm giữ vững chỗ đứng chân ở Tây Bắc, Thượng Lào và cắm “chốt” quan trọng ở một vùng chiến lược ở Đông Nam châu Á, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tập trung lực lượng xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố nhất của chúng ở Đông Dương, vì vậy Điện Biên Phủ trở thành điểm trung tâm của kế hoạch Nava.

Quyết tâm đánh bại âm mưu và hành động của địch, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, ngày 6 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ý nghĩa của chiến dịch như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chiến dịch có ý nghĩa rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với thế giới. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”[33]. Qua 3 đợt tấn công, đến 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, tướng Đờ-cát-tơ-ri và hàng ngàn sỹ quan, binh lính bị bắt sống. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã tập tan toàn bộ kế hoạch Nava, mở ra một khả năng giải phóng hoàn toàn đất nước ta. Trong thời gian này, quân đội giải phóng Lào đã tiến công giải phóng Phông-Sa-Lỳ; phối hợp với quân giải phóng Cam-pu-chia tiêu diệt một bộ phận quân địch ở Trung Lào, Hạ lào và Đông Bắc Cam-pu-chia mở rộng vùng giải phóng, đường chiến lược Bắc Nam Đông Dương được thông suốt, tạo bàn đạp chiến lược cho Tây Nguyên.

Phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Liên Khu V đã mở nhiều chiến dịch giành thắng lợi to lớn mở màn chiến dịch, quân và dân ta tập trung tiêu diệt đồn Măng Đen. Ngày 15 tháng 2 năm 1954 giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum; ngày 21 tháng 3 năm 1954, quân ta tập kích lần thứ 2 vào thị xã Plâyku. Ngày 24 tháng 5 phục kích đánh tiêu diệt binh đoàn cơ động 100[34], giải phóng một phần tỉnh Gia Lai. Trên đà chiến thắng, lực lượng phát triển xuống phía Nam cùng với quân dân các tỉnh duyên hải miền Trung bẻ gãy cuộc hành quân Át-Lăng của địch[35]. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 1954, toàn Liên Khu V đã tiêu diệt và làm tan rã trên 22.000 tên địch. Tại các vùng tạm chiếm, phong trào đấu tranh chống bắt lính và đấu tranh chính trị ngày mỗi lên cao.

Thắng lợi dồn dập trên các chiến trường trong cả nước đã có tác động mạnh mẽ đến tình hình Cực Nam và Lâm Đồng. Để phối hợp hoạt động giữa các tỉnh Cực Nam, đầu năm 1954, ban cán sự Cực Nam chủ trương thành lập Ban chuẩn bị chiến trường gồm có đại diện Tỉnh uỷ Bình Thuận, Ban cán sự Lâm Đồng, trung đoàn 812. Ban chuẩn bị chiến trường có nhiệm vụ theo dõi tình hình địch, lên kế hoạch chiến dịch và chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh hoạt động vũ trang.

Ở Ninh Thuận, bộ đội địa phương đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, bức rút nhiều đồn, bót, giải phóng trên 50 thôn.

Đầu năm 1954, Ban cán sự Cực Nam quyết định thành lập Ban cán sự huyện Di Linh (bao gồm cả B’Lao), đồng chí Lê tấn Thăng-Uỷ viên ban cán sự tỉnh Lâm Đồng làm bí thư. các đội xây dựng cơ sở ở Đại Ninh, Di Linh, B’Lao tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động.

Vượt qua những khó khăn, gian khổ và ác liệt, các đội xây dựng cơ sở đã kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để đưa phong trào cách mạng ở địa phương không ngừng phát triển.

Công tác xây dựng cơ sở đã được chú trọng trong đồng bào dân tộc ít người ở ngoại ô thị xã và vùng Tây Bắc Đà Lạt, vùng Đăng-Gia-Rít, Bờ Nơ là nơi có nhiều khó khăn phức tạp nhưng đến cuối năm 1953 đã xây dựng được nhiều cơ sở, phần lớn đồng bào đã tiếp xúc với cán bộ. Trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, các đội công tác có nhiều linh hoạt, sáng tạo, vì vậy ở một số nơi như Prơ-teng, Tổng Lạch, Bờ Nơ… đã tranh thủ được tầng lớp trên, lực lượng Gum và hội tề.

Tại thị xã Đà Lạt, cơ sở cách mạng phát triển nhanh trong các tầng lớp nhân dân, lực lượng thanh niên thị xã được tổ chức thành những đơn vị nhỏ hoạt động bí mật và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân. Trước sự phát triển của phong trào, địch lại tìm cách đối phó và có những hành động khủng bố, đàn áp dã man. Cuối năm 1952, địch bắt bà Xu Nguyên, một cơ sở cách mạng rất trung kiên, đã nhiều năm tiếp tế cho chiến khu, chúng tra tấn đánh đập dã man nhưng bà vẫn không khai báo và giữ vững khí tiết đến hơi thở cuối cùng. Trước hành động dã man tàn bạo của địch, cơ sở cách mạng tại thị xã đã vận động nhân dân biến đám tang thành một cuộc biểu tình đấu tranh chính trị, có hỗ trợ của lực lượng thanh niên, tự vệ. Các cơ quan, đội công tác đã tổ chức lễ truy điệu để tỏ lòng khâm phục trước tinh thần hy sinh anh dũng của một cơ sở cách mạng.

Để tạo bàn đạp vững chắc cho các đội công tác lên hoạt động ở Di Linh, B’Lao, khu du kích Mang Yệu - Chi Lai ngày càng được củng cố, mỗi xã có một trung đội du kích tập trung[36] và mỗi buôn đều có 1 tiểu đội du kích. Nhiệm vụ của lực lượng du kích địa phương là thường xuyên trinh sát nắm tình hình địch, kịp thời báo cáo cho nhân dân để đối phó và tổ chức tác chiến đánh địch càn quét vào chiến khu. Các đội xây dựng cơ sở ở các Tổng K’Dòn, Nộp đã vào ở hẳn trong các làng và được nhân dân nuôi dưỡng, che chở. Qua tuyên truyền giáo dục, các đội đã tranh thủ được tầng lớp trên, lực lượng Gum và hội tề ở nhiều buôn. Trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở Di Linh, B’Lao, cơ sở cách mạng phát triển rộng khắp, đó là lực lượng nòng cốt và tiêu biểu cho phong trào cách mạng địa phương.

Phối hợp với các chiến trường trong Liên Khu V và các tỉnh Cực Nam, lực lượng vũ trang trung đoàn 812 và lực lượng vũ trang Lâm Đồng mở trận tập kích vào các đồn La Giày, Gia Bát, Tánh Linh trong đêm 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1954. Với sự phối hợp chặt chẽ, cả 3 đồn đều bị tiêu diệt gọn, giải phóng một vùng rộng lớn gồm hàng ngàn dân và nối liền với vùng giải phóng phía Tây tỉnh Bình Thuận. Sáng ngày ngày 7 tháng 4, đội công tác và lực lượng du kích xã đã chặn đánh một trung đội lính đi tuần tại buôn B’Ran diệt một số tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn và sau đó ít ngày đã trở về trình diện, giao nộp vũ khí.

Phát huy thắng lợi, các đơn vị tiếp tục tấn công tiêu diệt các đồn Tà Xị, Suối Kiết, Lút-xe… mở rộng địa bàn hoạt động ở huyện Di Linh. Các đội xây dựng cơ sở chuyển sang hoạt động trong các làng phía Bắc huyện Di Linh, lên đến vùng Loan, Tà in, La Hoan… Như vậy, vùng du kích được mở rộng bao gồm khu căn cứ Mang Yệu-Chi Lai và toàn bộ tổng K’Dòn; Tổng Châu Trưng và Bảo Thuận; phía Tánh Linh đã nối liền với tổng La Dạ và Tố La. Trong thời gian này, do bị bọn xấu kích động nên một số đồng bào dân tộc đã rời bỏ buôn làng, cán bộ, chiến sỹ các đội công tác đã nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật bảo vệ tốt tài sản của nhân dân, giữ vững ổn định đời sống của một số đồng bào còn lại trong các buôn. Những việc làm đó đã có tác dụng và ảnh hưởng tốt trong đồng bào, nhiều bà con đã trở về làng cũ làm ăn.

Thắng lợi Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là cơ sở quyết định cho Hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề Đông Dương đi đến thắng lợi. Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, quy định các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương; Pháp phải rút quân về nước, vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời… Tiến tới tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi. Đó là cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn và sáng suốt của Đảng.

Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng (từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1954), Hội nghị nhận định: Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và cũng là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, trong giai đoạn mới nhân dân ta phải chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến Pháp để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà. Hội nghị đề ra 10 công tác trước mắt cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta để hoàn thành những nhiệm vụ trên.

Được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V và Ban cán sự Cực Nam về việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tất cả cán bộ, chiến sỹ tỉnh Lâm Đồng tập trung về Bình Thuận để học tập tinh thần Hiệp định và thực hiện chuyển quân tập kết.

Sau khi học tập tinh thần Hiệp định và quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban cán sự Cực Nam đã cử một số cán bộ, chiến sỹ ở lại bám địa bàn tiếp tục hoạt động, chuẩn bị điều kiện để chuyển sang giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đấu tranh thống nhất nước nhà.

Do vận dụng phương châm, phương thức hoạt động một cách linh hoạt sáng tạo nên đã từng bước vượt qua mọi khó khăn, gian khổ mở rộng thêm địa bàn hoạt động. Ban cán sự tỉnh đã tập trung chỉ đạo các đội xây dựng cơ sở, thực hiện tốt phương châm “kiên trì vận động cách mạng, tích cực xây dựng cơ sở”. Việc thành lập phân ban cán sự miền Tây Bắc Lâm Đồng kịp thời tạo thành sự thống nhất chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa thị xã Đà Lạt và vùng Tây Bắc, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc ít người. Tuy còn nhiều mặt hạn chế nhưng đó là sự phối hợp hoạt động giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng Kinh và vùng đồng bào dân tộc ít người.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng được tiến hành thường xuyên. Ban cán sự tỉnh chỉ đạo các đội xây dựng cơ sở chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức. Cán bộ, chiến sỹ được rèn luyện, thử thách và trưởng thành về mọi mặt đã kiên trì bám trụ địa bàn, bám sát quần chúng để hoạt động. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, các chi bộ đã bồi dưỡng và kết nạp được nhiều đảng viên tại chỗ, trong đó có một số đảng viên người dân tộc.

Tuy nhiên, phong trào cách mạng ở địa phương phát triển còn chậm và nhiều mặt hạn chế. Một số cán bộ, chiến sỹ chưa quán triệt đầy đủ phương châm, phương thức hoạt động, thiếu ý thức tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ít người.

Sau gần 4 năm hợp nhất, được sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, Ban cán sự Cực Nam và sự giúp đỡ mọi mặt của các tỉnh bạn, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng có nhiều chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những thành tích đáng tự hào.

Nêu cao quyết tâm đánh bại mọi âm mưu, hành động của kẻ thù, Liên khu V, Ban cán sự Cực Nam đã tập trung chỉ đạo và xác định “Lâm Đồng là chiến trường chính của Cực Nam, nhưng là chiến trường gây cơ sở” từ cuối năm 1951, Ban cán sự tỉnh Lâm Đồng tập trung chỉ đạo các hoạt động ở nội địa, nhất là phong trào diệt tề, trừ gian ở thị xã Đà Lạt, nhiều tên ác ôn có nợ máu với nhân dân đã bị trừng trị. Phong trào thanh niên, công nhân, học sinh, thoát ly ra chiến khu tham gia kháng chiến; tại thị xã Đà Lạt, nhiều tổ chức quần chúng ra đời và hoạt động tích cực, tiêu biểu là tổ chức phụ nữ chợ, thanh niên, học sinh… đã thu hút hàng ngàn người tham gia. Những cuộc bãi thị, biểu tình ngày càng phát triển với mục tiêu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế dần dần phát triển lên đấu tranh chính trị rộng lớn thể hiện lòng yêu nước và căn thù giặc của các tầng lớp nhân dân.

Quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động vùng sau lưng địch đạt nhiều kết quả, nhất là vùng đồng bào dân tộc ít người. Trong khi địch tìm mọi cách mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc ít người, đẩy mạnh phát triển tôn giáo nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của ta thì các đội vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở đã bám trụ trên địa bàn người Kinh để vận động, tuyên truyền, xây dựng cơ sở, vận động, tranh thủ các già làng, bọn hội tề, lực lượng Gum. Phong trào từng bước phát triển, nhiều nơi đã xây dựng được lực lượng du kích địa phương, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại chỗ trở thành lực lượng trung kiên và nòng cốt cho phong trào.

Công tác xây dựng và phát triển Đảng được chú trọng từ tỉnh đến cơ sở. Tuy số lượng đảng viên còn ít nhưng đã thực sự đóng vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương. Đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên được học tập các chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, từng bước nâng cao nhận thức, giác ngộ cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám địa bàn, bám quần chúng để hoạt động, giữ vững phong trào.

Tuy vậy, phong trào cách mạng tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu chung, phong trào chưa phát triển đều khắp trên các địa bàn của tỉnh và chưa có sự gắn kết với nhau. Do ở xa sự chỉ đạo của Trung ương và Liên khu uỷ V, nên nhiều chủ trương đường lối của Đảng đến với địa phương chậm làm hạn chế sự phối hợp với các chiến trường khác.

Trong quá trình vận dụng phương châm, phương thức hoạt động, có nơi phong trào còn mang tính hình thức, phô trương lực lượng, có lúc hoạt động diệt tề, trừ gian tiến hành ồ ạt, tràn lan, không kết hợp với việc xây dựng, củng cố và bảo vệ cơ sở chính trị, do vậy dẫn đến khó khăn, tổn thất cho phong trào. Một số cán bộ, chiến sỹ chưa thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng nên đã vi phạm phong tục tập quán của đồng bào. Công tác xây dựng cơ sở, chính quyền cách mạng ở thôn, xã còn mang tính hình thức, xem nhẹ việc củng cố, chạy theo số lượng mà chưa bảo đảm chất lượng.

Công tác phát triển Đảng chưa tương xứng, có nơi phong trào phát triển mạnh nhưng chưa có đảng viên tại chỗ làm nòng cốt trực tiếp lãnh đạo, tình trạng đó dẫn đến một số địa phương khi cán bộ, chiến sỹ các đội công tác rút đi làm nhiệm vụ nơi khác thì phong trào bị sút kém, cơ sở nằm im. Việc phát triển Đảng chưa chú trọng đến thành phần công nhân, phụ nữ và đồng bào dân tộc ít người.

Phương châm, phương thức hoạt động tuy được quán triệt và học tập nhưng trong quá trình hoạt động, có lúc, có nơi vận dụng vẫn còn máy móc, lúng túng, chưa thật sự thấm nhuần quan điểm kháng chiến lâu dài, phương châm kiên trì vận động cách mạng của Đảng, vận dụng chưa nhuần nhuyễn công tác hoạt động công khai hợp pháp.

Những mặt tồn tại trên đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào. Đó cũng là những bài học được rút ra từ thực tiễn của cách mạng, làm phong phú thêm kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ Lâm Đồng trong những giai đoạn tiếp theo.


[1] Từ tháng 9 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời đổi thành Uỷ ban nhân dân

[2] Nội dung chủ yếu của bản thông cáo là:

- Không được phép tổ chức những cuộc biểu tình

- Không được hội họp bất cứ chỗ nào

- Không được mang vũ khí bất cứ thứ gì, dù là gậy, dao, tầm vông vót nhọn

- Không được ra đường từ 21 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng hôm sau.

[3] Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) Chính phủ mới ra sắc lệnh thành lập Uỷ ban kháng chiến tỉnh, huyện.

[4] Từ Cầu Đất đến Trại Mát

[5] Đà Lạt 3, huyện Chiến Thắng 3 và 1 cán bộ hoạt động ở Sài Gòn bị lộ chuyển lên Đà Lạt công tác.

[6] Hai đồng chí trong Uỷ ban kháng chiến tỉnh là Trần Diệu Thuần và Nguyễn Đình Đạm bị địch bắt và bắn chết, hai Uỷ viên khác bị địch bắt, một Uỷ viên quân sự đi công tác ra Bắc không trở về, số cán bộ của tỉnh chỉ còn khoảng 20 người.

[7] Một đồng chí bị bắt, 1 đồng chí bị bắn chết, 1 đồng chí bị địch bắn bị thương và 1 đồng chí hy sinh.

[8] Xã Trường Sơn có 16 buôn, xã lam sơn có 10 buôn, thuộc tổng Châu Trưng, xã Trung Sơn có 10 buôn thuộc tổng K’Dòn.

[9] Xã Bắc Sơn có 12 buôn, nay là xã Bảo Thuận huyện Di Linh; xã Đông Thuận có 3 buôn nay thuộc xã Gia Hiệp huyện Di Linh.

[10] Văn kiện Đảng tập 2 Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, năm 1979, trang 5.

[11] } Biên bản Hội nghị các tỉnh Cực Nam ngày 10 tháng 2 năm 1949.

[12] } Tài liệu tại phòng Lịch sử Đảng,

[13] } Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[14] Đồng chí Phan Như Thạch giữ chức Chủ tịch UBKHHC và Uỷ viên quân sự tỉnh Lâm Viên ký tên Ngô Văn Nhân+đồng chí Hoàng Phi Hổ giữ chức Chủ tịch UBKHHC kiêm thị đội trưởng Đà Lạt ký tên Lê Diệu Thanh; đồng chí Hồng Việt là trưởng ty Công an lấy tên là Nguyễn Trung Dũng, trưởng ty Thông tin lấy tên là Hoàng Phi Bằng; đồng chí Lê Duy Vân Chủ tịch UBKCHC huyện Chiến Thắng.

[15] Như Hổ là bí danh của đồng chí Nhật Thăng, đại đội trưởng đã hy sinh.

[16] Gum là một từ Ả Rập có ý nghĩa là thị tộc, bộ lạc. Thực dân Pháp xâm lược châu Phi, năm 1918 ở Ma Rốc chúng đã tổ chức lực lượng vũ trang người địa phương lấy tên là GOUMSMANEAIN mục đích là biến người Ma Rốc thành lực lượng vũ trang địa phương và dùng dòng họ của các lực lượng này trong việc “Bình định”. Tính chất của Gum là một đơn vị địa phương. (Theo tài liệu của Liên Khu uỷ V, lưu trữ tại Phòng lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo tỉnh Lâm Đồng).

[17] { Biên bản Hội nghị cán bộ Đồng Nai Thượng từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 2 năm 1949.

[18] { Tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[19] Chức vụ đứng đầu Tỉnh dưới thời Pháp.

[20] Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội trù bị (văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, xuất bản năm 1956, trang 8).

[21] Bốn điểm của kế hoạch gồm:

- Gấp rút tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến lược và ra sức phát triển quân nguỵ

- Xây dựng tuyến phòng thủ cắt ngang miền Bắc bằng con đường số 18 dựng hệ thống Boong Ke cố thủ, bên ngoài hệ thống này là một vành đai trắng bao quanh vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ

- Tập trung lực lượng bình định vùng sau lưng địch chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc bộ vì đây là “cái chốt” ở Đông Nam châu Á

- Phá hoại các vùng tự do và mở cuộc tiến công ra vùng tự do của ta (Trích: lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, 1981, trang 641, 642).

[22] Về phía địch vẫn giữ nguyên hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng như cũ cho đến ngày 19 tháng 5 năm 1958.

[23] Biên bản Hội nghị kiểm thảo công tác xây dựng cơ sở địch hậu ở Đồng Nai Thượng, ngày 21 đến 23 tháng 10 năm 1950. Tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[24] Không xác định được số lần vào thị xã Đà Lạt rải truyền đơn. Theo tài liệu của địch đã sưu tập 4 loại truyền đơn được dịch ra tiếng Pháp. Những truyền đơn này hiện lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[25] { Văn kiện Đảng tập 3, quyển 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương,

[26] { xuất bản năm 1980, trang 51.

[27] Trích biên bản Hội nghị kiểm điểm chủ trương công tác của ban cán sự cực Nam (từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951, tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[28] Trích biên bản Hội nghị kiểm điểm chủ trương công tác của Ban cán sự cực Nam (từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951), tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[29] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập I (1920-1954) trang 647

[30] Văn kiện Đảng quyển III, tập 1, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản năm 1930, trang 158.

[31] Trích: Biên bản Hội nghị kiểm thảo chủ trương công tác của ban cán sự và các Tỉnh uỷ trong cực Nam từ đầu năm đến nay (họp từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1951), tài liệu lưu trữ tại phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Lâm Đồng.

[32] Vì đói phải ăn rau rừng thay cơm, nhưng đã hết các loại rau ăn được, sau cùng có một loại cây hỏi đồng bào không biết, đói quá đành phải ăn. Lần đầu đồng chí Thanh Vân ăn thử để đề phòng ngộ độc, sau đó cả đại đội cùng ăn. Hết lá đó lại ăn thứ lá khác, do đồng chí Hồng Phát ăn thử… từ đó đặt tên rau Thanh Vân, Hồng Phát.

[33] Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12 năm 1953

[34] Là binh đoàn thiện chiến của Pháp vừa điều từ mặt trận Triều Tiên về

[35] Để chiếm đóng vùng tự do Liên Khu V, kế hoạch hành quân Át-Lăng của địch có 3 bước: bước 1 đánh chiếm Tuy Hoà-Phú Yên; bước 2đánh chiếm Quy Nhơn, Nam Bình Định; bước 3 phối hợp hai cánh quân từ Quảng Nam vào và từ Bình Định ra hợp điểm tại thị xã Quảng Ngãi.

[36] Trung đội ở xã Chi Lai có 4 tiểu đội ở 4 thôn, mỗi tiểu đội có từ 10 đến 15 du kích. Trung đội ở xã Măng Yệu có 2 tiểu đội với 32 du kích.

Phần thứ ba

ĐẢNG BỘ LÂM ĐỒNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG TRONG

 CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (7/1954-4/1975)

 

Chương I

CỦNG CỐ TỔ CHỨC ĐẢNG, XÂY DỰNG

VÀ PHÁT TRIỂN THỰC LỰC CÁCH MẠNG

(từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm 1961)

 

Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Thắng lợi đó đã đưa cách mạng nước ta sang giai đoạn mới: Miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân các dân tộc Lâm Đồng vô cùng phấn khởi đón mừng hoà bình và mong muốn được sống trong độc lập, tự do. Nhưng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đi ngược lại lợi ích của nhân dân ta. Tháng 6 năm 1954, đế quốc Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam lập chính phủ bù nhìn và chuẩn bị hất cẳng Pháp. Đế quốc Mỹ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, chia cắt lâu dài đất nước ta và ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển ở Đông Nam Châu Á. Từ đây nhân dân Lâm Đồng cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước suốt 21 năm đầy gian khổ hy sinh nhưng rất anh dũng, tự hào.

Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, Lâm Đồng là một trong những tỉnh bị địch chiếm đóng sớm (tháng 1 năm 1946). Tuy xa sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Liên khu ủy V, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng, vẻ vang. Từ vùng căn cứ du kích Mang Yệu-Chí Lai, phong trào cách mạng phát triển trong nhiều buôn đồng bào dân tộc phía Nam các huyện Di Linh, Bảo Lộc và mở rộng đến vùng Tà In, La Hoan. Tại thị xã Đà Lạt, phong trào phát triển mạnh, xây dựng được nhiều cơ sở trên các địa bàn, từ đó mở rộng ra các ấp vùng ven, vùng đồng bào dân tộc phía Tây Bắc, tạo thế cho việc mở phong trào trong thời kỳ chống Mỹ. Tuy vậy, phong trào cách mạng trong tỉnh vẫn phát triển chưa đều, chưa mạnh, nhiều nơi cơ sở cách mạng còn ít như thị trấn Di Linh, B’Lao và trong các đồn điền; cán bộ lãnh đạo, đảng viên là người tại chỗ còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Ở Lâm Đồng tổ chức Đảng được thành lập từ tháng 4 năm 1930 và đã lãnh đạo nhân dân tham gia các cao trào cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ không ngừng được củng cố và phát triển, Ban cán sự Đảng tỉnh và các huyện được thành lập, toàn Đảng bộ có hàng trăm đảng viên. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, số cán bộ, đảng viên thoát ly và lực lượng vũ trang của tỉnh đều tập trung xuống chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) để học tập về vấn đề đình chiến và chuẩn bị chuyển quân tập kết[1]. Ngay từ đầu Ban cán sự Cực Nam  và Ban cán sự Đảng Tỉnh không kịp thời sắp xếp lại tổ chức, bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động. Đến tháng 10 năm 1954 tại Đà Lạt chỉ còn 03 đảng viên hoạt động hợp pháp (trong đó có một đồng chí trên đường chuyển quân tập kết bị tai nạn phải ở lại).

Những đặc điểm, tình hình trên đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng tỉnh Lâm Đồng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc trong tỉnh vẫn tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang, góp phần đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

I. Tích cực  xây dựng thực lực cách mạng, đấu tranh đòi hoà bình, chống địch khủng bố (từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm 1956)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhưng nước ta còn tạm thời chia làm hai miền, nhân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai để hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân. Tháng 7 năm 1954, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá II) nhận định: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”[2]. Hội nghị đề ra ba nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng và  toàn dân ta là:

1.Tranh thủ và củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

2.Tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh thích hợp với yêu cầu của tình thế mới.

3.Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà[3].

Trong bản báo cáo đọc tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất đất nước là một cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ và phức tạp vì đế quốc Mỹ sẽ ra sức phá hoại hoà bình và thực dân Pháp vẫn theo đuôi đế quốc Mỹ.

Ngay sau khi đưa Ngô Đình Diệm về lập chính phủ bù nhìn ở miền Nam, đế quốc Mỹ tiến hành nhiều âm mưu để hất cẳng Pháp, phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơnevơ; đồng thời gấp rút xây dựng bộ máy ngụy quyền các cấp, cải tổ ngụy quân, tăng cường viện trợ kinh tế làm công cụ thực hiện chính sách xâm lược thực hiện mới.

Tháng 2 năm 1955, Mỹ-Diệm bắt đầu thực hiện chính sách “tố cộng” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, xoá bỏ mọi ảnh hưởng của Đảng trong nhân dân. Lực lượng quân đội, cảnh sát mở nhiều cuộc hành quân càn quét, kết hợp với giai cấp địa chủ phong kiến ác ôn tại chỗ đánh phá cách mạng. Chúng tổ chức các lớp học “tố cộng” bắt ép quần chúng nói xấu Đảng, nói xấu cách mạng, khai báo người thân tham gia kháng chiến, từ đó truy bắt cán bộ, đảng viên và những người yêu nước. Những vụ thảm sát đẫm máu ở miền Nam như Ngân Sơn, Chí Thạnh, Vĩnh Trinh, Chợ Được, Mỏ Cày… đã giết hại hàng chục ngàn người và hàng trăm ngàn người bị bắt.

Tại Lâm Đồng, ngụy quyền các cấp tiến hành phân loại quần chúng, phát hiện cán bộ, đảng viên và cơ sở cách mạng. Đầu năm 1956, một số tên phản động ở Đà Lạt giả danh cán bộ cách mạng lập ra một tổ chức “cách mạng” nhằm thực hiện những âm mưu đen tối của chúng. Tại một khu rừng ở Cam Ly, chúng chuẩn bị cờ đỏ sao vàng, ảnh Bác Hồ rồi vận động cơ sở cách mạng, thanh niên yêu nước đến dự mít tinh. Khi mọi người đến đông đủ, lực lượng cảnh sát đến bao vây, bắt mọi người về giam tại nhà lao Đà Lạt. Chúng đánh đập, tra tấn những người dự mít tinh phải khai báo tổ chức Đảng, cán bộ lãnh đạo và cơ sở cách mạng. Chúng còn tung tin vu khống “Việt cộng” tập hợp lực lượng âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến, đi ngược lại mong muốn của đồng bào, nhằm làm giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng, với cách mạng.

Sau khi tiến hành các đợt “tố cộng” ở các tỉnh đồng bằng Cực Nam Trung Bộ, gây ra các vụ khủng bố dã man ở Hàm Tân, khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận), An Xuân, Vĩnh Ký, Thái An, Sơn Hải (Ninh Thuận), địch tập trung lực lượng đánh phá phong trào cách mạng ở miền núi và các tỉnh Nam  Tây Nguyên. Ở Lâm Đồng, địch tổ chức hàng trăm lớp “tố cộng”, chúng chia ra làm hai loại: một loại cho quần chúng nhân dân, một loại cho ngụy quyền cấp huyện, xã[4]. Thực chất của các lớp “tố cộng” là những trại tập trung tra tấn, truy bức quần chúng khai báo tổ chức Đảng, cán bộ, cơ sở cách mạng. Phương châm của chúng là: diệt tận gốc bọn lãnh đạo; bắt, giết nhầm 100 người còn hơn để lọt một tên cộng sản. Nhận rõ âm mưu và thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, đồng bào ở nhiều nơi trong tỉnh tìm mọi cách tẩy chay không tham gia các lớp học “tố cộng”, có khi bị cưỡng ép đến lớp nhưng cũng chỉ ngồi im không phát biểu, thảo luận. Những hình thức đấu tranh khôn khéo, có lý lẽ của quần chúng đã gây khó khăn cho địch trong việc tổ chức các lớp học “tố cộng”.

Đi đôi với chính sách “tố cộng”, Mỹ - Diệm đưa đến Lâm Đồng hơn 30.000 đồng bào thiên chúa giáo di cư từ miền Bắc vào. Chúng bố trí thế chiến lược các địa bàn quan trọng vừa phòng thủ, vừa ngăn chặn lực lượng ta, hình thành vành đai và các điểm dân cư nhằm bảo vệ các tiểu khu, chi khu và dọc các đường giao thông quan trọng như Tân Thanh, Tân Phát, Tân Bùi (Bảo Lộc), Phú Hiệp, Tân Xuân, Tân Lập (Di Linh), Bình Thạnh (trên đường liên tỉnh 18 còn gọi là đường 21 kéo dài), Lạc Lâm (trên quốc lộ 21 A), ấp Phát Chi trên đường 11, các ấp nội ô và vùng ven phía Tây Bắc Đà Lạt. ngoài ra còn có hàng ngàn đồng bào các dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh biên giới phía Bắc chạy theo sư đoàn Nùng[5] được bố trí ở xen kẽ với số đồng bào ở Khu V, Nam Bộ bị địch khủng bố phải rời bỏ quê hương đến Lâm Đồng sinh sống, tiêu biểu là vùng Tùng Nghĩa, nam Sơn (Đức Trọng). Do đó, đã làm thay đổi cơ cấu dân cư, gây khó khăn phúc tạp cho cách mạng.

Trước tình hình Mỹ -Diệm ra sức phá hoại Hiệp định đình chiến, quần chúng nhân dân bị địch kìm kẹp, khủng bố dã man, tháng 9 năm 1954, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam. Bộ chính trị xác định: “Nhiệm vụ của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện tại là: lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”[6]. Vì vậy, phương châm công tác lúc này là “tranh thủ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp, kết hợp công tác hợp pháp với công tác không hợp pháp”[7]. Để phù hợp với tình hình mới, Bộ chính trị quyết định giải thể Trung ương cục miền Nam, lập lại Xứ ủy Nam Bộ, ở Liên khu V giữ nguyên Khu ủy và thành lập 3 Liên Tỉnh ủy.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị, Liên Khu ủy V đề ra nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là: Phải tạo thế bám trụ vững chắc trên các địa bàn, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, bám rễ trong nhân dân để xây dựng và củng cố mạng lưới cơ sở cốt cán, tập hợp đông đảo quần chúng dưới mọi hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp, tranh thủ tề ngụy, lập chính quyền theo kiểu “xanh vỏ đỏ lòng”. Hình thành đường dây chỉ đạo chặt chẽ từ tỉnh xuống cơ sở. Phải lãnh đạo quần chúng dựa vào pháp lý Hiệp định đấu tranh chống “tố cộng”, đòi quyền dân sinh, dân chủ.

Liên khu ủy chủ trương tăng cường cán bộ, đảng viên cho các tỉnh Tây Nguyên. Một số cán bộ từ các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận đã theo đường hợp pháp, bất hợp pháp lên hoạt động ở Lâm Đồng.

Tháng 9 năm 1954, Ban cán sự Cực Nam bố trí một số cán bộ ở lại hoạt động vùng căn cứ Mang Yệu-Chí Lai và củng cố lại huyện ủy Di Linh gồm 7 đồng chí (có 3 đồng chí người dân tộc), đồng chí Nguyễn Xuân Du được cử làm Bí thư huyện ủy[8]. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ mới và tình hình thực tế ở địa phương, huyện ủy chủ trương tập hợp số đảng viên người tại chỗ ở vùng căn cứ để thành lập các chi bộ; khẩn trương tổ chức và phát triển các đoàn thể quần chúng như thanh niên, phụ nữ; từng bước mở rộng địa bàn hoạt động, phát triển cơ sở lên sát thị xã Di Linh, thị trấn B’Lao, tạo bàn đạp bám sát đường 20 và mở sang phía Bắc đường. Phương thức hoạt động lúc này là lợi dụng những sơ hở của địch, cài cắm cán bộ và quần chúng cốt cán vào các tổ chức nguỵ quyền ở cơ sở để tổ chức “tề hai mặt”, tạo thuận lợi cho nhiệm vụ xây dựng thực lực cách mạng và nắm tình hình trong vùng địch kiểm soát.

Thực hiện chủ trương của Huyện uỷ, các đoàn thể quần chúng ở vùng căn cứ được củng cố và tiếp tục hoạt động, tập hợp được nhiều hội viên. Huyện ủy phân công cán bộ, đảng viên xuống các buôn thực hiện “4 cùng”[9], vận động đồng bào làm “rẫy cách mạng” đẩy mạnh tăng gia sản xuất để giải quyết lương thực và đóng góp cho cách mạng. Qua mấy mùa sản xuất đã khắc phục được tình trạng thiếu đói, đồng bào càng tin tưởng và quyết tâm đi theo Đảng làm cách mạng. Đầu năm 1956, hai đồng chí đảng viên cùng với hơn 100 đồng bào buôn Con Sỏ[10] tổ chức lễ đâm trâu ăn thề. Đó là một truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc, biểu thị quyết tâm đi theo cách mạng, kiên quyết chống lại mọi âm mưu và thủ đoạn của Mỹ-Diệm.

Cùng với việc củng cố tổ chức Đảng và xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng căn cứ phía Nam huyện Di Linh, tháng 10 năm 1954, Ban cán sự Đảng cử 8 đồng chí cán bộ, đảng viên từ Bình Thuận, Ninh Thuận theo đường hợp pháp lên hoạt động ở Đà Lạt. Sau khi tạo được thế sống hợp pháp và tìm việc làm thích hợp để che mắt địch, tháng 3 năm 1955, Ban cán sự Đảng Cực Nam quyết định thành lập Ban cán sự Đảng Đà Lạt, gồm 3 đồng chí[11]. Trong cuộc họp đầu tiên, Ban cán sự Đảng Đà Lạt đề ra một số nhiệm vụ trước mắt nhằm nhanh chóng ổn định tổ chức, móc nối và phát triển cơ sở cách mạng, trước hết là trong công nhân, lấy công nhân làm chỗ dựa để phát triển rộng ra các ấp người Kinh vùng ven. Ban cán sự Đảng phân công đảng viên xuống các địa bàn để nối lại liên lạc với những cơ sở cũ trong nội ô, sau đó mở rộng ra các ấp vùng ven như Trại Hầm, Tây Hồ, Đa Phú và vùng Đồng Thạnh, Thạnh Mỹ, Ka Đô (Đơn Dương).

Sau một thời gian tuyên truyền, vận động, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong các tổ chức nghiệp đoàn công nhân, nhất là ở nghiệp đoàn Hoả xa, phụ nữ chợ Đà Lạt, phát triển một số cơ sở đơn tuyến và hình thành đường dây liên lạc hợp pháp từ Đà Lạt đến Ban cán sự Đảng. Đến cuối năm 1955, hầu hết các cơ sở cũ được liên lạc và tiếp tục hoạt động, phát triển thêm 50 cơ sở trong các ấp người Kinh ở vùng ven thị xã.

Hưởng ứng “phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn”[12], cuối năm 1954, một số đảng viên và cơ sở ở Đà Lạt tự động thành lập Uỷ ban bảo vệ hoà bình tại địa phương do hai đồng chí đảng viên trực tiếp chỉ đạo. Thành viên của Uỷ ban là những người yêu nước, trong đó lực lượng đông đảo nhất là công nhân các ngành xây dựng, cầu đường và lái xe tắc xi. Sau khi thành lập, Uỷ ban cử cán bộ đi liên hệ với phong trào hoà bình Sài Gòn-Chợ Lớn lấy tài liệu tuyên truyền, sau đó bí mật in và phát hành hơn 1.000 bản tài liệu với nội dung tuyên truyền, giải thích các điều khoản của Hiệp định đình chiến và tố cáo âm mưu phá hoại Hiệp định của Mỹ -Diệm. Uỷ ban quyên góp tiền mua một chiếc xe tắc xi làm phương tiện vận chuyển tài liệu và đảm bảo hoạt động được nhanh chóng, thuận tiện. Với ảnh hưởng rộng lớn của phong trào, các ấp vùng ven như Nghệ Tĩnh, Hà Đông, Sào Nam, Tây Hồ đã có nhiều quần chúng tích cực ủng hộ và tham gia các cuộc đấu tranh công khai hợp pháp. Quần chúng cử đại diện lên gặp Thị trưởng Đà Lạt đưa kiến nghị đòi chính quyền địch phải tôn trọng các điều khoản của Hiệp định, đòi tự do hội họp, đi lại làm ăn, quan hệ bình thường giữa hai miền Nam-Bắc.

Phối hợp với phong trào bảo vệ hoà bình, được sự chỉ đạo của cơ sở Đảng bên trong, tháng 8 năm 1955 hơn 300 phụ nữ chợ Đà Lạt tổ chức cuộc mít tinh bãi thị, cử đại diện gặp Thị trưởng Đà Lạt đưa kiến nghị đòi thi hành Hiệp định đình chiến, đòi Mỹ không đựơc can thiệp vào miền Nam Việt Nam.

Trước sự phát triển và ảnh hưởng rộng lớn của phong trào, chính quyền địch ở địa phương tìm cách đối phó, dùng mọi thủ đoạn để đàn áp, khủng bố. Tại Đà Lạt, địch bắt một số người hoạt động trong phong trào bảo vệ hoà bình, trong đó có một đồng chí đảng viên của Uỷ ban. Do có người khai báo nên địch truy bắt 13 cơ sở và quần chúng ở Đơn Dương đưa về nhà lao Đà Lạt. Cuối năm 1955, phong trào bảo vệ hoà bình tại Đà Lạt dần dần lắng xuống và ngừng hoạt động.

Phong trào bảo vệ hoà bình ở Đà Lạt tuy có mục tiêu đấu tranh cụ thể, nhưng do chưa có kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo, chưa vận dụng thích hợp hình thức đấu tranh hợp pháp, bất hợp pháp vào điều kiện cụ thể và hoàn cảnh mới, còn chủ quan bộc lộ lực lượng nên sớm bị địch đánh phá. Mặt khác, phong trào chưa tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, chưa tạo thành một mặt trận đấu tranh rộng rãi đòi hoà bình, tự do, chống âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến của Mỹ -Diệm.

Qua các cuộc khủng bố, đàn áp, địch đã bắt gần hai trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước ở các nơi trong tỉnh và một số người ở các tỉnh Gia Lai- Kon Tum, Đắc Lắc về giam tại nhà lao Đà Lạt. Mặc dù cuộc sống nhà lao vô cùng khắc nghiệt và bị tra tấn, đánh đập dã man, nhưng những người yêu nước vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, dù có phải hy sinh tính mạng của mình cũng không khai báo để bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng. Giữa năm 1956, các đồng chí đảng viên trong nhà lao đã vận động, tổ chức cuộc đấu tranh đòi cải thiện chế độ ăn uống và chống học tập “tố cộng”. Bằng những lý lẽ khôn khéo, hợp tình hợp lý của anh em tù nhân, giám thị nhà lao buộc phải chấp nhận cho tù nhân được tham gia quản lý việc tiếp phẩm và ăn uống, do đó đời sống đỡ khó khăn hơn trước. Tại các lớp học “tố cộng”, anh chị em tù nhân dùng nhiều hình thức đấu tranh hợp pháp để không tham gia học tập và bằng những lý lẽ đanh thép vạch trần âm mưu của Mỹ -Diệm không thi hành Hiệp định. Đối với một số phần tử của Đảng Đại Việt do địch cài vào nhà lao anh em tù nhân vừa đấu tranh chỉ rõ những việc làm sai trái của họ, vừa thuyết phục, cảm hoá họ đồng tình với các cuộc đấu tranh ở nhà lao và tán thành cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.

Đầu năm 1955, Ban cán sự Cực Nam cử một số cán bộ theo đường hợp pháp đến hoạt động tại Bảo Lộc, Di Linh để phát động phong trào quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng trong các thị trấn, đồn điền. Những cán bộ đã cùng nhau thành lập Ban cán sự Đảng liên huyện Bảo Lộc-Di Linh[13] và phân công cán bộ xuống các địa bàn nắm tình hình và xây dựng phong trào. Tháng 7 năm 1955, Ban cán sự họp kiểm điểm tình hình 6 tháng hoạt động và đề ra những nhiệm vụ trước mắt. Trên cơ sở đánh giá tình hình địch ta, Ban cán sự chủ trương: Triệt để lợi dụng mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế giữa Pháp và Mỹ nhất là trong các đồn điền, nhanh chóng tuyên truyền cho quần chúng và công nhân hiểu được kẻ thù chính của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm; từng bước xây dựng cơ sở cách mạng và tổ chức Đảng trong công nhân.

Thực hiện chủ trương trên, các đồng chí trong Ban cán sự Liên huyện trực tiếp vào làm công nhân trong một số đồn điền. Do làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nên đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, vận động và tổ chức công nhân đấu tranh chống ngụy- quyền bắt ép họ tham gia “phong trào cách mạng quốc gia”. Trong các đồn điền Đạ Nghịch, Minh Rồng, công nhân đấu tranh đòi bọn chủ tăng lương, bán gạo và cấp thuốc chữa bệnh. Những cuộc đấu tranh đó có ảnh hưởng lớn đến các đồn điền khác ở Bảo Lộc, Di Linh, nhiều nơi công nhân cử đại diện gặp bọn chủ đưa yêu sách hoặc tìm cách lãn công, làm hỏng máy móc. Trước tình hình đó, bọn chủ đồn điền vừa đe doạ công nhân, vừa phải nhượng bộ và chấp nhận bán gạo, cấp thuốc chữa bệnh cho gia đình công nhân, tăng mức lương công nhân nữ lên ngang mức lương công nhân nam trong cùng một công việc.

Thông qua phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân, Ban cán sự Liên huyện chú ý việc bồi dưỡng, xây dựng cốt cán, đào tạo cán bộ trong lực lượng công nhân. Tháng 10 năm 1955, tại đồn điền Bít Snê đã thành lập Ban cán sự gồm 3 đồng chí (có 2 đảng viên) và xây dựng được 16 cơ sở cách mạng ở các đồn điền Đạ Nghịch, Minh Rồng.

Giữa lúc phong trào công nhân ở Bảo Lộc, Di Linh đang có nhiều chuyển biến mạnh, thì địch tăng cường lực lượng lùng sục, kiểm tra chặt chẽ việc đi lại của quần chúng để phát hiện, truy bắt cán bộ. Đêm 12 tháng 12 năm 1955, một đồng chí trong Ban cán sự Liên huyện bị bắt, các đồng chí còn lại hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, căng thẳng nên lần lượt chuyển vùng hoạt động. Đến giữa năm 1956, Ban cán sự Đảng Liên huyện Bảo Lộc-Di Linh không còn nữa.

II. Từng bước chuyển hướng đấu tranh trong tình hình mới (từ tháng 8 năm 1956 đến cuối năm 1958)

Qua hai năm đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, cách mạng miền Nam đứng trước tình hình vô cùng khó khăn, phức tạp. Mỹ -Diệm trắng trợn phá hoại Hiệp định thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn phát xít tàn bạo. Tháng 3 năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức tuyển cử riêng rẽ, bầu “Quốc hội lập hiến” và tháng 10 năm 1956 ban hành Hiến pháp mới, bầu Diệm làm tổng thống. Hiệp định Giơnevơ trên thực tế đã bị Mỹ - Diệm xé bỏ hoàn toàn.

Tháng 6 năm 1956, Bộ chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết nêu rõ: “Tuy hình thức đấu tranh trong toàn quốc của ta hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang, nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định… cần củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”[14].

Thực hiện Nghị quyết Bộ chính trị và được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu ủy V, Liên Tỉnh ủy 3[15] chủ trương: cần khắc phục khuynh hướng đấu tranh một chiều, hướng dẫn quần chúng canh gác, bố phòng chống địch lùng sục để tự bảo vệ mình và không được quên nhiệm vụ xây dựng căn cứ miền núi, tạo thế bám, thế đứng lâu dài cho phong trào cách mạng địa phương.

Quán triệt tinh thần đó, Huyện ủy Di Linh tập trung chỉ đạo vùng căn cứ du kích đẩy mạnh công tác bố phòng bảo vệ buôn làng, nương rẫy, tự tạo các loại vũ khí thô sơ để tự vệ khi cần thiết; đồng thời vận động đồng bào trong vùng nông thôn địch kiểm soát lập các khu bất hợp pháp, cất giấu lương thực, thực phẩm. Đầu năm 1957, hơn 400 đồng bào ở 3 buôn thuộc xã Bờ Gia ra rừng lập thế bất hợp pháp, thoát khỏi sự kềm kẹp, khủng bố của địch. Những ngày đầu dù phải ăn rau và củ rừng thay cơm, nhưng đồng bào vẫn một lòng tin tưởng và quyết tâm đi theo cách mạng. Vượt qua mọi khó khăn gian khổ, xã Bờ Gia đã hình thành được các tổ chức tự quản, xây dựng lực lượng du kích và trở thành vùng căn cứ đầu tiên của tỉnh Lâm Đồng (cũ) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Học tập kinh nghiệm xã Bờ Gia, nhiều buôn ở vùng Nộp, K’Dòn đều bí mật lập các khu căn cứ để cất giấu tài sản, sống bất hợp pháp, dự trữ lương thực, thực phẩm. Một số khu bất hợp pháp dần dần trở thành điểm đứng chân của các đội công tác và hậu cứ của các cơ quan, đơn vị.

Tại thị xã Đà Lạt, phong trào bảo vệ hoà bình tuy bị địch khủng bố, nhưng vẫn còn ảnh hưởng trong quần chúng. Ban cán sự Đảng Đà Lạt vừa lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai hợp pháp, vừa tích cực xây dựng cơ sở phát triển đảng viên. Được Liên Tỉnh ủy 3 tăng cường cán bộ, đảng viên, giữa năm 1956 chi bộ Đảng nội ô được thành lập và đầu năm 1957 thành lập chi bộ công nhân Hoả xa, ngoài ra còn phát triển hai đảng viên tại chỗ hoạt động đơn tuyến. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ và cơ sở cách mạng, nhân dân Đà Lạt đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh chống tăng thuế, chống độc quyền rau của Trần Lệ Xuân và không tham gia tổ chức “phụ nữ liên đới” của địch. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, ta xây dựng được nhiều cơ sở ở các ấp vùng ven như Đa Thiện, An Lạc, Cầu Đất và Xuân Sơn (trên đường 11), Định An (trên đường 20).

Đầu năm 1957, Liên Tỉnh ủy 3 điều một số cán bộ đến hoạt động tại thị trấn B’Lao để gây dựng lại phong trào và móc nối với cơ sở cũ. Ngày 19 tháng 8 năm 1958, một số đảng viên sống hợp pháp đã tự động thành lập chi bộ[16]. Trong khi chính quyền địch đang tiến hành dồn dân, cướp đất để dời tỉnh lỵ từ Di Linh về thị trấn B’Lao, chi bộ vận động đồng bào ấp Kon Hin, khu 16 mẫu, khu 7 mẫu đấu tranh trực diện với địch. Hàng trăm người kéo lên quận lỵ đấu tranh và gởi đơn cho ngụy quyền Trung ương phản đối hành động ngang ngược của chính quyền ngụy ở địa phương và đòi bồi thường thiệt hại cho 75 gia đình ở thị trấn B’Lao. Trước những đề nghị có lý lẽ của đồng bào, chính quyền nguỵ phải bồi thường gần 1 triệu đồng, cấp 50 héc ta đất và các loại vật liệu cần thiết cho 75 gia đình đến nơi ở mới.

Sau hơn hai năm tiến hành các đợt tố cộng, đánh phá phong trào cách mạng ở các tỉnh đồng bằng, từ năm 1957, địch tập trung lực lượng đánh phá phong trào ở miền núi và các tỉnh Nam  Tây Nguyên. Chúng phát động chiến dịch “Thựơng du vận”, nhưng thực chất là tiến hành “tố cộng” ở miền núi. Mục tiêu của chúng là “đánh mạnh, nhổ sạch cơ sở cách mạng”, “lấy người dân tộc trị người dân tộc” hòng xoá bỏ mọi ảnh hưởng của Đảng, của cách mạng trong đồng bào dân tộc và đánh phá các căn cứ của ta. Chúng còn ban hành chính sách “tiến bộ, bình đẳng” nhằm mua chuộc, lừa mị đồng bào và thực hiện âm mưu chia rẽ Kinh-Thượng.

Đi đôi với những âm mưu và thủ đoạn trên, địch còn xúc tiến mở rộng đường 20, sửa chữa và trang bị thêm cho 3 sân bay Liên Khương, Cam Ly, Bảo Lộc để phục vụ mục đích quân sự; gấp rút cải tổ, sắp xếp và tăng cường bộ máy ngụy quyền từ tỉnh xuống cơ sở; đẩy mạnh đôn quân bắt lính bổ sung lực lượng bảo an, cộng hoà, củng cố dân vệ và thanh niên chiến đấu. Riêng ở Đà Lạt có 350 tên bảo an, 150 dân vệ và trên 1.000 thanh niên chiến đấu.

Tại thị xã Đà Lạt, địch tiếp tục đánh phá phong trào cách mạng, truy bắt cán bộ, đảng viên và những quần chúng yêu nước. Một số cán bộ, đảng viên hoạt động tại Viện Pát-xtơ, Nha địa dư, Hoả xa và đồng chí Bí thư Ban cán sự bị bắt. Tuy phong trào có bị tổn thất nhưng một số cán bộ, đảng viên còn lại vẫn bám cơ sở tiếp tục hoạt động.

Để xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ vững chắc của cách mạng miền Nam, mùa Thu năm 1958, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ trước mắt ở Tây Nguyên. Chỉ thị nêu rõ: “Tây Nguyên là một vị trí quan trọng chẳng những đối với miền Nam nước ta mà còn đối với cả miền Nam Đông Dương, một địa bàn chiến lược có ý nghĩa quyết định trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch, là nơi có điều kiện tốt để xây dựng căn cứ cách mạng, làm chỗ dựa cho phong trào miền Nam”[17]. Do đó, nhiệm vụ của Tây Nguyên là: “giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ cách mạng của ta ở miền Nam, phá tan âm mưu xây dựng Trung tâm căn cứ của Mỹ -Diệm”[18].

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Liên khu ủy V xúc tiến việc chỉ đạo xây dựng Tây Nguyên và miền núi các tỉnh đồng bằng thành căn cứ cách mạng. Liên khu ủy chủ trương phát triển một cách phổ biến hình thức vũ trang tự vệ của quần chúng và tiến hành hoạt động du kích ở những nơi có địa thế thuận lợi.

Quán triệt tinh thần đó, Liên Tỉnh ủy 3 đề ra nhiệm vụ cho phong trào miền núi là: Xây dựng căn cứ miền núi ngày thêm vững chắc, tổ chức lực lượng tự vệ vũ trang, bí mật diệt ác, tích cực hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

Phối hợp với phong trào đấu tranh của nhân dân các tỉnh Tây Nguyên chống địch lập khu dinh điền, khu trù mật, trong năm 1958 đồng bào các dân tộc ít người ở Bảo Lộc, Di Linh đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh chính trị. Giữa năm 1958, đồng bào dân tộc kéo lên quận đấu tranh đòi bán gạo, muối và được tự do đi lại làm ăn. Chính quyền địch cử đại diện gặp đồng bào để xoa dịu, giải thích, nhưng đồng bào vẫn tiếp tục đấu lý với chúng. Một số cơ sở cốt cán, người già, phụ nữ và trẻ em ở lại trong quận lỵ 3, 4 ngày đòi địch giải quyết kiến nghị. Trước tinh thần đoàn kết đấu tranh và lý lẽ của đồng bào, lại thêm cảnh mất trật tự tại quận lỵ, địch phải nhượng bộ, chịu bán gạo, muối và để cho đồng bào phát rẫy gần buôn làng.

Tại Đà Lạt, cuối năm 1958 được Liên Tỉnh ủy 3 tăng cường thêm cán bộ, đảng viên nên Ban cán sự Đảng[19] được củng cố lại và tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động, phong trào cách mạng được khôi phục. Trong nội ô và một số ấp vùng ven đã móc nối lại nhiều cơ sở và phát triển thêm cơ sở mới. Ngoài ra còn xây dựng thêm 6 cơ sở tại Đại Ninh, Quảng Hiệp (Đức Trọng) tạo điều kiện để củng cố đường dây liên lạc từ Đà Lạt đi Sài Gòn.

Đến cuối năm 1958, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng đã từng bước chuyển biến, tổ chức Đảng ở Đà Lạt, Bảo Lộc và vùng căn cứ phía Nam huyện Di Linh được củng cố và phát triển. Những cuộc đấu tranh của quần chúng đã có hàng ngàn người tham gia, quần chúng ngày càng thấy rõ chính sách tàn bạo, phát xít của Mỹ -Diệm. Trước những âm mưu, thủ đoạn xảo quyết của địch, nhân dân các dân tộc trong tỉnh còn phải tiếp tục đấu tranh chính trị hợp pháp, kết hợp với vũ trang tự vệ để kịp thời ngăn chặn hành động tội ác của chúng và bảo vệ lực lượng cách mạng.

III. Đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng căn cứ. Mở rộng địa bàn hoạt động. Chuyển phong trào lên một bước mới (từ đầu năm 1959 đến tháng 7 năm 1961)

Để đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, tháng 1 năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15 (khoá II), xác định đường lối cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị vạch rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam”[20]. Hội nghị nhấn mạnh: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[21].

Dưới ánh sáng Nghị quyết lần thứ 15 của Trung ương Đảng, nhân dân ở nhiều tỉnh Liên khu V đã nổi dậy chống lại ách kèm kẹp của Mỹ -Diệm. Nhiều tỉnh tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và bước đầu hoạt động có kết quả tốt.

Sự chuyển biến của phong trào cách mạng ở các địa phương có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Lâm Đồng. Cuối năm 1959, đồng chí Lê Văn Hiền thay mặt Thường vụ Liên Tỉnh ủy 3 đến Đà Lạt phổ biến nội dung Nghị quyết 15. Sau khi được học tập, cán bộ, đảng viên đã tháo gỡ được những thắc mắc, đồng thời xác định vai trò, trách nhiệm của mình trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng. Ban cán sự Đảng Đà Lạt chủ trương: Đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng với số lượng đông, chất lượng cao. Nhanh chóng phát triển cơ sở chính trị trong nội ô và mở rộng ra vùng nông thôn ven thị xã, tạo điều kiện thuận lợi để từng bước nối liên lạc giữa Đà Lạt với các đội vũ trang tuyên truyền của Liên Tỉnh ủy 3 đang từ các hướng Khánh Hoà, Ninh Thuận tiến lên và của Liên Tỉnh ủy 4[22] từ phía Nam tỉnh Đắc Lắc phát triển xuống.

Trong thời gian này, Ban cán sự Đảng Đà Lạt tiếp tục được củng cố và hoạt động nửa hợp pháp bên trong thị xã. Với phương thức “Cầu chuyền”, ta đã móc nối lại được nhiều cơ sở cũ bị đứt liên lạc và phát triển thêm 20 cơ sở mới. Đó là điều kiện thuận lợi để xây dựng và mở rộng phong trào Đà Lạt trong những năm tiếp theo.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Liên Tỉnh ủy 3, phong trào cách mạng ở các huyện miền núi có những chuyển biến mạnh. Cuộc nổi dậy phá hai khu tập trung Bà Râu, Tầm Ngân ở Bác Ái (Ninh Thuận) và những trận chống càn giành thắng lợi đã làm cho quần chúng ở miền núi rất phấn khởi, nhiều nam nữ thanh niên hăng hái tham gia cách mạng, lực lượng tự vệ tích cực làm nhiệm vụ bố phòng chống địch càn quét.

Phối hợp với phong trào đồng khởi đang phát triển mạnh ở các tỉnh Nam Bộ và Liên khu V, Liên Tỉnh ủy 3 chủ trương phát động quần chúng trong các khu tập trung, có lực lượng vũ trang hỗ trợ nổi dậy phá khu tập trung trở về buôn làng cũ xây dựng căn cứ.

Khu tập trung Bắc Ruộng được xây dựng từ năm 1957, địch đưa về đây gần 4.000 đồng bào dân tộc ít người của các huyện miền núi tỉnh Bình Thuận và tháng 3 năm 1960 dồn trên 2.500 đồng bào vùng K’Dòn, Tố La, Nam Tố Lạch (nay là xã Đông Giang, Đông Tiến huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và xã Lộc Nam, Lộc Thành huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng)hòng cắt đứt sự liên lạc giữa quần chúng với cách mạng. Trong thời gian địch tiến hành dồn dân, Huyện ủy Di Linh chủ trương bố trí một số cán bộ và cơ sở cốt cán đi cùng với đồng bào để tiếp tục xây dựng cơ sở, vận động quần chúng và khi có thời cơ thuận lợi sẽ phát động quần chúng nổi dậy phá khu tập trung, trở về buôn làng cũ.

Chấp hành chủ trương của Liên Tỉnh ủy 3, các Huyện uỷ và đơn vị 2/9 khẩn trương chuẩn bị cơ sở chính trị và quần chúng cốt cán bên trong khu tập trung phát động đồng bào nổi dậy; đồng thời vận động đồng bào vùng căn cứ chuẩn bị các mặt đón đồng bào từ khu tập trung trở về.  Đêm 31 tháng 7 rạng 1 tháng 8 năm 1960, gần 30 cán bộ, chiến sĩ và 80 du kích vùng căn cứ tập kích đồn Bắc Ruộng và quận lỵ Hoài Đức, diệt và bắt sống trên 300 tên địch, thu 126 súng các loại, hỗ trợ cho gần 4.000 đồng bào nổi dậy phá khu tập trung trở về buôn làng cũ. Được sự hướng dẫn của đội công tác huyện Di Linh, hơn 2.500 đồng bào K’Dòn, Tố La vừa tránh địch truy kích, vừa giúp đỡ nhau vượt qua nhiều sông sâu, núi cao trong mùa mưa lũ về đến buôn làng cũ an toàn.

Thời gian đầu mới trở về, đồng bào bị đói nghiêm trọng, phải hái rau, đào củ rừng để sống qua ngày. Trước tình hình đó, Huyện ủy Di Linh vận động các cơ quan, đội công tác tự nguyện bớt một phần lương thực của mình để chia sẻ với đồng bào, đồng thời phân công cán bộ, đảng viên, chiến sĩ xuống các buôn làng vận động và cùng đồng bào phát rẫy, tăng gia sản xuất. Qua mấy vụ thu hoạch đã giải quyết được nạn đói, từng bước ổn định đời sống. Đi đôi với nhiệm vụ sản xuất, các buôn làng tổ chức lực lượng du kích làm nhiệm vụ bố phòng đánh địch, bảo vệ căn cứ. Tháng 9 năm 1960, đơn vị 2/9 và lực lượng du kích căn cứ đánh địch càn quét tại buôn Con Sỏ, diệt 12 tên, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân.

Phát huy chiến thắng Bắc Ruộng, lực lượng vũ trang Liên Tỉnh 3 liên tục tấn công, bức rút nhiều đồn bốt địch, hỗ trợ nhân dân nổi  dậy phá khu tập trung, trở về buôn làng cũ lập thế bố phòng đánh địch. Đến cuối năm 1960, vùng giải phóng của Liên tỉnh 3 đã có trên 30.000 dân ở 23 xã thuộc các huyện Anh Dũng, Bác Ái (Ninh Thuận), Khánh Sơn, Vĩnh Sơn (Khánh Hoà), Tánh Linh (Bình Thuận) và một phần huyện Di Linh (Lâm Đồng).

Giữa lúc phong trào cách mạng miền Nam đang có những chuyển biến lớn thì ở miền Bắc phong trào thi đua lao động sản xuất với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt cũng thu được thắng lợi đáng kể. Nhân dân miền Bắc luôn luôn hướng về cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Ngày 2 tháng 9 năm 1960, tại thị xã Hà Giang, đại biểu nhân dân hai tỉnh Hà Giang, Lâm Đồng họp đại hội làm lễ kết nghĩa, Đại hội gởi thư cho nhân dân hai tỉnh nêu rõ: “từ ngày hôm nay mối tình anh em ruột thịt Lâm Đồng -Hà Giang ngày càng thắm thiết. Hà Giang không thể thiếu Lâm Đồng và miền Nam, cũng như Lâm Đồng không thể thiếu Hà Giang và miền Bắc. Chúng ta là máu của máu, thịt của thịt, sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc, giải phóng miền Nam, giải phóng Lâm Đồng cũng là sự nghiệp của chính nhân dân Hà Giang. Từ đây, chúng ta có thêm sức mạnh để chiến thắng quân thù”[23]. Ngay sau lễ kết nghĩa, Tỉnh ủy Hà Giang phát động phong trào thi đua “Vì miền Nam ruột thịt và vì Lâm Đồng thân yêu”. Nhiều công trình mang tên Lâm Đồng, hàng ngàn thanh niên hăng hái gia nhập bộ đội góp phần giải phóng miền Nam. Đó là nguồn cổ vũ, động viên đối với nhân dân Lâm Đồng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ vững chắc của cách mạng miền Nam, tạo bàn đạp nối thông đường hành lang chiến lược từ miền Bắc vào Nam Bộ, trong chỉ thị về “Nhiệm vụ xây dựng căn cứ cách mạng Tây Nguyên” (tháng 3 năm 1959), Bộ chính trị chỉ rõ: “Nhìn chung thì cả Tây Nguyên là căn cứ chính của miền Nam, trong đó vùng Nam  Tây Nguyên có vị trí quan trọng nhất đối với địch, cũng là nơi giữ vị trí cơ động của ta giữa Trung và Nam Bộ, giữa Tây Nguyên và Sài Gòn-Chợ Lớn. Vì vậy hướng chính phải nỗ lực xây dựng là phía Nam”[24].

Thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị, giữa năm 1959, Trung ương tăng cường 30 cán bộ quân sự, chính trị vào Đắc Lắc làm nhiệm vụ mở đường hành lang nối Nam  Tây Nguyên với Đông Nam Bộ. Đồng thời giao cho Tỉnh ủy Đắc Lắc đặc trách lo phát triển cơ sở, mở phong trào về phía Nam, nối thông đường hành lang chiến lược giữa Trung ương với Nam Bộ qua hai hướng. Một hướng qua Lâm Đồng vào chiến khu Đ, một hướng qua Phước Long. Tháng 1 năm 1960 đoàn cán bộ được tăng cường chia làm hai đội công tác: Đội thứ nhất phát triển xuống phía Nam tỉnh Quảng Đức và phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, bắt liên lạc với đội vũ trang tuyên truyền Đông Nam Bộ từ Bù Chóp phát triển ra; đội thứ hai phát triển qua hướng Đắc Min vào Phước Long.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mở đường hành lang xuống phía Nam, đội công tác thứ nhất đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ. Trong lúc vượt sông nước chảy xiết, đồng chí Thời đã anh dũng hy sinh, nhưng cán bộ, chiến sĩ trong đội vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Phối hợp với các đội công tác ở Nam  Tây Nguyên, giữa năm 1960 Xứ ủy Nam Bộ thành lập đội vũ trang tuyên truyền (phiên hiệu C 200) làm nhiệm vụ xoi đường bắt liên lạc với đội công tác từ phía Nam tỉnh Quảng Đức phát triển xuống. Đồng thời tổ chức một đội vũ trang tuyên truyền khác (với phiên hiệu C 300) từ căn cứ I xoi lên hướng Đắc Min. Ngày 10 tháng 6 năm 1960, đơn vị C 200 mở đường từ chiến khu Đ ra phía Bắc. Ngày 30 tháng 7 đơn vị tới điểm hẹn tại Bù Tu Yuên nhưng không bắt được liên lạc vì đồng bào ở đây đã bị địch dồn vào khu tập trung. Trước tình hình đó Xứ ủy Nam Bộ giao nhiệm vụ cho đơn vị tiếp tục theo sông Đồng Nai phát triển lên Bờ Sa Nia, được tiếp xúc với đồng bào để nắm tình hình. Qua những lần tiếp xúc, đơn vị được đồng bào tin yêu và cung cấp lương thực, thực phẩm. Sau những ngày tiếp tục mở đường, ngày 30 tháng 10 năm 1960, tại Vàm Đạ Rtý (bắc sông Đồng Nai) đơn vị đã gặp đội công tác từ phía Bắc phát triển xuống. Ngày hôm sau hai đơn vị vượt sông Đồng Nai sang buôn Bờ Sa Nia trao đổi tình hình và cùng đồng bào địa phương tổ chức liên hoan mừng thắng lợi. Sau hai ngày gặp gỡ, đơn vị C 200 trở về Xứ ủy Nam Bộ để báo cáo tình hình.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, đội công tác từ Phước Long ra đã bắt được liên lạc với đội công tác từ Đắc Min phát triển xuống tại cây số 11 trên đường 14[25].

Trải qua bao ngày tháng gian lao vất vả làm nhiệm vụ mở đường, các đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Lần đầu tiên đường hành lang chiến lược giữa Nam  Tây Nguyên với Nam Bộ được nối liền. Từ đây sự liên lạc giữa hai miền Nam-Bắc được thông suốt, con đường chiến lược này là mạch máu giao thông quan trọng để chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Giữa lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam đang giành được những thắng lợi quan trọng, tại thủ đô Hà Nội đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960. Nghị quyết Đại hội xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân tộc và dân chủ trong cả nước”[26]. Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[27].

Đại hội lần thứ III của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam. Đại hội đã vạch ra con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và con đường giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

Để tập hợp đông đảo các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đấu tranh cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi, ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh), đại biểu các giai cấp, các đảng phái, tôn giáo, các dân tộc miền Nam họp Đại hội, tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội thông qua tuyên ngôn và  chương trình hành động 10 điểm của Mặt trận. Sự ra đời của Mặt trận đáp ứng kịp thời nguyện vọng của nhân dân miền Nam. Sau Đại hội, nhiều địa phương ở miền Nam tổ chức Đại hội, mít tinh hưởng ứng tuyên ngôn và  chương trình hành động của Mặt trận.

Sau khi nối thông đường hành lang chiến lược Bắc -Nam, Liên khu ủy V chỉ đạo các địa phương nhanh chóng mở rộng phong trào, xây dựng thực lực cách mạng, đặt các trạm trên đường hành lang, xây dựng các vùng căn cứ liên hoàn. Đồng thời khẩn trương nối liên lạc giữa Liên tỉnh 4 và liên tỉnh 3, nhanh chóng thống nhất địa bàn và sự chỉ đạo ở Nam  Tây Nguyên, Cực Nam Trung Bộ. Phương châm lúc này là: Mở rộng phong trào và vùng làm chủ của quần chúng đến đâu thì hình thành tổ chức Đảng đến đó để chỉ đạo các lực lượng và xây dựng phong trào cách mạng trên một địa bàn nhất định.

Chấp hành chủ trương của Liên khu ủy V, tháng 1 năm 1961, Ban cán sự Khiêm Đức được thành lập (lấy phiên hiệu E 25 thuộc Tỉnh ủy Quảng Đức) để chỉ đạo phong trào và phát triển cơ sở phía Nam tỉnh Quảng Đức. Theo sự chỉ đạo của Liên khu ủy V, Tỉnh ủy Đắc Lắc đưa một đội công tác đến hoạt động trên địa bàn phía Bắc tỉnh Lâm Đồng làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở rộng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Đội công tác này chia làm hai mũi:

Mũi thứ nhất, hoạt động dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở rộng phong trào vùng đồng bào dân tộc phía Bắc đường 20, đồng thời củng cố và bảo vệ đường hành lang chiến lược từ Bờ Sa Nia đến Bờ Sa Lu Xiên. Sau một thời gian tuyên truyền vận động, hàng ngàn đồng bào các dân tộc ít người đã hăng hái tham gia cách mạng, tạo mọi điều kiện cho  đội công tác hoạt động. Để tập hợp lực lượng và động viên tinh thần cách mạng của quần chúng, ngày 28 tháng 3 năm 1961 tại buôn Phi Đưng, Đại hội các dân tộc được tiến hành với sự tham dự của 80 đại biểu thay mặt cho hơn 5.000 đồng bào ở 38 buôn phía Bắc đường 20. Đại hội làm lễ uống rượu truyền thống và tuyên bố: các dân tộc đều là anh em một nhà, phải đoàn kết lại để đánh đổ Mỹ -Diệm, xoá bộ máy chính quyền địch, thành lập chính quyền tự quản do dân quản lý. Đại hội biểu thị quyết tâm đi theo Đảng làm cách mạng, xây dựng vùng căn cứ vững chắc, góp phần củng cố và bảo vệ đường hành lang chiến lược Nam-Bắc.

Cũng trong thời gian này, Xứ ủy Nam Bộ điều đơn vị C 200 ra hoạt động trên địa bàn phía Tây Bắc tỉnh Lâm Đồng với nhiệm vụ sản xuất và bảo vệ đường hành lang, xây dựng cơ sở cách mạng, đánh địch mở rộng vùng giải phóng. Ngày 1 tháng 4 năm 1960, nhân ngày bầu cử của địch, đơn vị tập kích đốt khu tập trung Tân Rai (nay là xã Lộc Thắng) và ngày 7 tháng 4 lại phá khu tập trung Tân Lú (nay thuộc xã Lộc Tân), hỗ trợ gần 1.000 đồng bào nổi dậy trở về buôn làng cũ. Đến giữa năm 1961 có hơn 50 buôn đồng bào dân tộc được giải phóng, hình thành một vùng căn cứ rộng lớn ở phía Bắc đường 20.

Mũi thứ hai, từ chân núi Tà Đùng phát triển xuống phía Đông Nam, mở rộng phong trào dọc đường số 8 từ kênh Đạ qua Gung Răng Gia, xuống Hương Lâm, Tân Dân và một số buôn phía Tây huyện Đức Trọng. Đội công tác đã tập kích phá khu tập trung Bít-Snê, Pi Tôn, giải phóng đồng bào khỏi sự kìm kẹp của địch, thành lập chính quyền tự quản, nhiều thanh niên tình nguyện tham gia cách mạng.

Theo sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy 3, thực hiện nhiệm vụ xây dựng căn cứ phía Nam, vừa mở rộng phong trào, phát triển qua phía Bắc đường 20. Năm 1960, thành lập trung đội vũ trang tập trung (lấy tên là đội Hoành Sơn) và các đội công tác Nam Sơn thực hiện nhiệm vụ mở phong trào từ Bờ Gia lên hướng Đạ Gùi, đội Tây Sơn phát triển lên hướng đèo B’Lao. Nhiệm vụ của đội Hoành Sơn là phối hợp với lực lượng du kích mở phong trào vùng K’Dòn, Tố La, phát triển qua đường 20 lên hướng Gung Răng Gia, Hàng No, Kênh Đạ bắt liên lạc với đội công tác đang hoạt động tại vùng này. Được sự hỗ trợ của đồng bào, đội Hoành Sơn phối hợp với 12 du kích Hàng Bọt đã mưu trí, dũng cảm tiến công toán cảnh sát vũ trang của địch, diệt 5 tên tại buôn Chà Lào (đêm 30 tháng 12 năm 1960). Trận đánh này gây được lòng tin trong quần chúng và cổ vũ phong trào diệt ác phá kèm trong khu vực. Từ đó, các đội công tác tiếp tục mở rộng phong trào lên phía Bắc, hỗ trợ quần chúng diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ từ Đạ Gùi, Đạ Lào, Đinh Trang Hoà đến Đinh Túc, Đăng Gia, Đinh Trang Thượng giải phóng hàng chục ngàn dân.

Cuối năm 1959 và đầu năm 1960, Liên Tỉnh ủy 3 tổ chức hai đội vũ trang tuyên truyền lên hoạt động phía Đông Bắc và Đông Nam Đà Lạt. Đội thứ nhất  do đồng chí Đinh Sĩ Uẩn phụ trách từ căn cứ phía Tây Bác Ái (Ninh Thuận) mở cơ sở lên các buôn Đồng Mang, Đạ Tro, K’Si huyện Lạc Dương. Đội thứ hai, do đồng chí Nguyễn Lâm phụ trách từ bàn đạp phía Tây Anh Dũng (Ninh Thuận) tiến lên vùng B’Ró, M’Lọn. Vùng này địch kiểm soát rất chặt chẽ nên nhiều lần đội công tác xoi lên đều bị chặn đánh, không mở được cơ sở và bị tổn thất. Trước tình hình đó, Thường vụ Liên Tỉnh ủy 3 quyết định rút đội này về tăng cường cho đội vũ trang tuyên truyền đang hoạt động và mở phong trào vùng dân tộc phía Bắc Đà Lạt.

Sau khi được tăng cường lực lượng, đội tiếp tục mở phong trào lên phía Bắc để bắt liên lạc với đội  vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh 4 từ phía Nam tỉnh Đắc Lắc phát triển xuống. Hoạt động chủ yếu lúc này là dùng phương thức “cầu chuyền”, lúc đầu tiếp xúc với đồng bào ngoài nương, rẫy để gây cảm tình, sau đó vào từng buôn tuyên truyền vận động, xây dựng cơ sở cốt cán. Đồng thời với việc tuyên truyền vận động, đội vũ trang tuyên truyền còn khống chế bọn tề ấp, tìm cách thuyết phục giáo dục các mục sư, thầy giảng là những chức sắc đạo Tin lành. Với phương thức hoạt động đó, đội đã gây được lòng tin trong đồng bào, nhiều người có cảm tình và tin tưởng cách mạng.

Cuối năm 1960, nhiệm vụ xây dựng căn cứ, nối thông hành lang càng đòi hỏi khẩn trương hơn. Liên Tỉnh ủy 3 tiếp tục tăng cường số cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào và số thanh niên dân tộc mới thoát ly cho đội vũ trang tuyên truyền. Do đó phong trào tiếp tục mở nhanh lên phía Bắc, đội tổ chức một bộ phận đi trước làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động quần chúng theo cách mạng, phá bộ máy tề, lập Uỷ ban tự quản rồi phát triển qua buôn khác. Bộ phận đi sau làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, củng cố chính quyền tự quản. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã mở rộng phong trào cách mạng từ các buôn K’Long, La Hia, Diêng Gia Dit đến Đạ Me, Ediêng, Tân Tây Ló, Xít Dun (Lạc Dương), thành lập chính quyền tự quản ở 15 buôn, đưa hàng ngàn đồng bào lên thế làm chủ.

Cũng trong thời gian này, một đội vũ trang tuyên truyền của Liên Tỉnh ủy 4 do đồng chí Nguyễn Xuân Khanh phụ trách, từ địa bàn Đắc Min đã mở phong trào đến các buôn Păng Tang, R’Nốt, Phi Ty R’bút, Buôn Rin, K’Long Phe. Nhiệm vụ cơ bản là bảo vệ hành lang, mở rộng vùng giải phóng, vận động đồng bào đẩy mạnh tăng gia sản xuất để có lương thực tiếp tế cho hành lang, vận động thanh niên thoát ly tham gia các đội công tác. Từ buôn Păng Tang, đội công tác tiếp tục phát triển theo hai hướng, một hướng dọc theo sông Đa RMăng gồm các buôn K’Rông Phe, Păng Xim, Păng Đơn, Pi-Á… Một hướng khác phát triển theo dọc đường 21 kéo dài, tạo bàn đạp để bắt liên lạc với đội công tác của Liên tỉnh 3 và Đà Lạt.

Đầu tháng 2 năm 1961, hai đội vũ trang tuyên truyền của Liên Tỉnh ủy 3 và Liên Tỉnh ủy 4 đã nối thông đường hành lang và gặp nhau tại buôn Păng Tin Đờn. Sau đó hai đội phối hợp mở rộng phong trào đến các buôn đồng bào dân tộc phía Tây và Tây Bắc Đà Lạt. Đến tháng 5 năm 1961, ta đã xây dựng được phong trào ở hầu hết các buôn đồng bào dân tộc từ buôn Đồng Mang, Đạ Tro, K’Si chạy dọc theo sông KRôngNô và dọc theo sông Đa RMăng đến các buôn Păng Xim, Păng Tang, hình thành một vùng rộng lớn với hơn 6.000 dân, nối liền với vùng giải phóng phía Nam tỉnh Đắc Lắc. Đây là thắng lợi quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phong trào cách mạng ở Nam  Tây Nguyên, tiếp tục củng cố, bảo vệ đường hành lang chiến lược Bắc Nam và xây dựng vùng căn cứ liên hoàn.

Từ sau thắng lợi của phong trào đồng khởi, cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình  đó, tháng 1 năm 1961, Bộ chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Bộ chính trị nhận định: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ -Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp đã bắt đầu”[28]. Vì vậy, phương châm chiến lược của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”[29].

Thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị, giữa năm 1961, Thường vụ Liên tỉnh 3 ra Nghị quyết nêu rõ: Tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch, bảo tồn và bồi dưỡng lực lượng ta, ra sức xây dựng và bảo vệ căn cứ; vùng căn cứ phải xây dựng vững chắc về kinh tế, chính trị, quân sự. Đối với vùng tranh chấp, vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang để nhanh chóng đưa lên diện làm chủ. Ở vùng tranh chấp yếu cần gấp rút xây dựng thực lực cách mạng để đến đầu năm 1962 có thể chuyển lên vùng tranh chấp mạnh tiến lên đấu tranh vũ trang là chủ yếu. Trong vùng địch kiểm soát, ra sức vận dụng mọi khả năng thuận lợi tranh thủ những sơ hở của địch để phát triển cơ sở cách mạng.

Quán triệt chủ trương của Thường vụ Liên tỉnh 3, đêm 15 tháng 5 năm 1961, lực lượng vũ trang huyện Di Linh và một bộ phận đơn vị 2/9 (Bình Thuận) đánh chiếm và làm chủ Chi khu Di Linh, ấp số 5, đồi Nguyên Ngọc, đồi Pát-Xtơ, diệt một trung đội địch, thu vũ khí. Đêm 16 tháng 5, lực lượng vũ trang Liên Tỉnh ủy 3 tập kích quận lý D’ran tiêu diệt nhiều tên địch, trong đó có tên Quận trưởng, sau đó ta trụ lại đánh lui một đại đội bảo an đến cứu nguy cho đồng bọn. Thắng lợi của hai trận đánh trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đội vũ trang tuyên truyền tiếp tục mở rộng phong trào vùng nông thôn của tỉnh, có ảnh hướng lớn đối với nhân dân trong vùng địch kiểm soát.

Dưới ánh sáng đường lối cách mạng của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu ủy V, Liên Tỉnh ủy 3, phong trào cách mạng tỉnh Lâm Đồng đã vượt qua chặng đường đầy khó khăn, gian khổ ác liệt. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có quyết tâm cao để thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở rộng phong trào cách mạng, từng bước hình thành tổ chức chỉ đạo trên các địa bàn. Do đó, đến giữa năm 1961, ta đã giải phóng trên 10.000 dân ở các huyện Di Linh, Bảo Lộc, Đức Trọng, Lạc Dương, hình thành nhiều vùng căn cứ liên hoàn; góp phần củng cố và bảo vệ đường hành lang chiến lược Nam-Bắc, nối thông đường hành lang từ duyên hải Cực Nam Trung Bộ lên vùng rừng núi phía Bắc đường 20, nối đường hành lang giữa Liên Tỉnh ủy 3 và Liên Tỉnh ủy 4. Đây là thắng lợi quan trọng của phong trào cách mạng ở Nam  Tây Nguyên, điều mà trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp ta chưa làm được. Đối với các vùng thị xã, thị trấn, ta đã vận dụng thích hợp các hình thức hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp nên vừa móc nối liên lạc được với những cơ sở cũ vừa phát triển thêm nhiều cơ sở cốt cán. Hoạt động vũ trang tuy mới bước đầu nhưng có ảnh hưởng lớn và có tác dụng tốt trong việc hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

Tuy nhiên, phong trào cách mạng ở địa phương thời kỳ này còn có những mặt hạn chế. Ngay từ khi thực hiện chủ trương chuyển quân tập kết ta bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động trên các địa bàn quá ít nên sau này việc đưa cán bộ đến xây dựng cơ sở, mở phong trào gặp rất nhiều khó khăn. Những cán bộ hoạt động hợp pháp trong vùng địch kiểm soát thì nhận thức và vận dụng phương châm đấu tranh còn máy móc, chưa nắm bắt kịp thời tình hình để có hình thức hoạt động thích hợp. Ở hai huyện Lạc Dương, Đức Trọng phong trào cách mạng phát triển nhanh nhưng không được củng cố kịp thời, cơ sở cốt cán trong quần chúng còn ít và yếu; chính quyền tự  quản ở các buôn mới chỉ là hình thức, chưa có chiều sâu. Trong khi đó địch lại thông qua bộ máy tề điệp, kết hợp với thần quyền tôn giáo khống chế quần chúng và tiến hành dồn dân vào các khu tập trung, ấp chiến lược, ta không giữ được dân để xây dựng căn cứ nên đã dẫn đến nhiều khó khăn cho thời kỳ sau đó.

Chương II

ĐẢNG BỘ LÂM ĐỒNG VÀ ĐẢNG BỘ TUYÊN ĐỨC LÃNH ĐẠO

NHIỆM VỤ MỞ MẢNG, MỞ VÙNG, KẾT HỢP ĐẤU TRANH

CHÍNH TRỊ VỚI ĐẤU TRANH VŨ TRANG

(từ tháng 7-1961 đến giữa năm 1965)

 

Từ sau phong trào Đồng Khởi, cách mạng miền Nam tiếp tục giành được những thắng lợi vang dội, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm liên tiếp khủng hoảng và bắt đầu suy sụp. Để cứu vãn tình thế, Mỹ-Diệm chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch Xta-lây-Tay-lơ nhằm bình định xong miền Nam trong vòng 18 tháng.

Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, địch tập trung củng cố các trung tâm quân sự như Nha Trang, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Gia Nghĩa và tăng cường càn quét để giành lại những vùng đã mất. Từ tháng 9 năm 1961, địch bắt đầu tiến hành dồn dân vào các ấp chiến lược, xây dựng các khu dinh điền xung quanh thị xã, thị trấn, dọc đường giao thông quan trọng; đồng thời tổ chức lực lượng thanh niên chiến đấu và trang bị vũ khí cho dân vệ để giữ ấp.

Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Bộ có nhiều chuyển biến rõ rệt, hoạt động vũ trang vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền làm chủ, hình thành được nhiều vùng căn cứ, hành lang chiến lược Nam-Bắc và hành lang liên lạc giữa các tỉnh được giữ vững. Phương thức hoạt động chủ yếu lúc này là các đội vũ trang tuyên truyền, đội công tác khống chế tề điệp tại chỗ, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ; đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang đánh một số trận gây thối động và hỗ trợ phong trào quần chúng. Trong vùng đồng bào dân tộc đang bị địch kiểm soát, ta lợi dụng chương trình của phong trào tự trị để kêu gọi đồng bào thực hiện quyền bình đẳng, cùng nhau đoàn kết đánh đổ Mỹ-Diệm. Do nội dung tuyên truyền phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nên các đội công tác đã nhanh chóng mở rộng phong trào ở các tỉnh Nam Tây Nguyên.

Để thống nhất sự chỉ đạo đối với chiến trường Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, đồng thời đảm bảo yêu cầu củng cố hành lang chiến lược Nam-Bắc và xây dựng căn cứ Nam Tây Nguyên, tháng 7 năm 1961, Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu 6 trực thuộc chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam. Sau đó Tỉnh uỷ Lâm Đồng và Tỉnh ủy Tuyên Đức cũng được thành lập để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở các địa phương.

I. Đảng bộ Lâm Đồng (cũ)[30] lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ căn cứ, hành lang; đẩy mạnh hoạt động vũ trang, phát động nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ (từ tháng 7-1961 đến giữa năm 1965)

Sau khi nối liền hành lang chiến lược Nam -Bắc, các đội vũ trang tuyên truyền tiếp tục mở phong trào trong vùng đồng bào dân tộc ở phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, hình thành một vùng giải phóng rộng lớn từ phía Bắc đường 20 lên giáp phía Đông Nam hai tỉnh Quảng Đức, Đắc Lắc. Ở phía Nam đường 20, các đội công tác của huyện Di Linh tiếp tục tuyên truyền, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, mở phong trào lên phía Bắc. Cuối tháng 7 năm 1961, đội vũ trang tuyên truyền của liên tỉnh 4 đã nối liên lạc được với đội Hoành Sơn tại buôn B’Lá. Sự hợp điểm của các đội vũ trang tuyên truyền ở hai vùng căn cứ Nam -Bắc đường 20 đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng địa phương.

Để hình thành cơ quan lãnh đạo của tỉnh, ngày 31 tháng 8 năm 1961, Ban cán sự Đảng tỉnh Lâm Đồng được thành lập lấy phiên hiệu B7[31]. Nhiệm vụ chủ yếu của Ban cán sự lúc này là lãnh đạo việc mở rộng phong trào ở hai phía Bắc và Nam đường 20 để xây dựng căn cứ; củng cố và bảo vệ đường hành lang chiến lược Nam-Bắc trên đất Lâm Đồng.

Ở vùng căn cứ phía Bắc của tỉnh, đơn vị C200 được tăng cường thêm lực lượng làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào; xây dựng căn cứ cho Trung ương cục miền Nam; tăng gia sản xuất để cung cấp lương thực, thực phẩm  cho các trạm hành lang. Đơn vị có gần 600 cán bộ, chiến sĩ, có Đảng ủy và các bộ phận chuyên môn.

Nhằm thống nhất sự chỉ đạo giữa Ban cán sự B7 và đơn vị C200, tháng 12 năm 1961, Trung ương Cục miền Nam bổ sung cán bộ và thành lập Tỉnh ủy Lâm Đồng[32], gồm 9 đồng chí do đồng chí Phạm Thuần làm Bí thư. Đầu năm 1962, Tỉnh ủy Lâm Đồng họp đánh giá tình hình phong trào cách mạng địa phương và đề ra nhiệm vụ trước mắt. Hội nghị quyết định thành lập tổ chức Đảng ở mỗi vùng để trực tiếp chỉ đạo từng địa bàn trong tỉnh[33]. Hội nghị chủ trương xây dựng, củng cố vùng bàn đạp gồm: KDòn, Nộp, Tố La, Măng Tố, Bờ Gia từng bước trở thành một căn cứ vững, tạo bàn đạp mở lên hướng Bắc đường 20; tranh thủ mở cơ sở ở vùng 3 để tiếp tục mở rộng phong trào từ Bờ Xa Lu Xiên, Bù Run, Bù Khiêu, Bù Go xuống đến Tà Lài; đồng thời tăng cường lãnh đạo và đẩy mạnh công tác vận động đồng bào tăng gia sản xuất để có lương thực giải quyết đời sống và đóng góp kháng chiến.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy, ngày 3 tháng 2 năm 1962 tại vùng căn cứ phía Nam, tỉnh đã thành lập phân ban T14 để chỉ đạo phong trào dọc đường 20 từ ấp Đạ Gùi đến giáp phía Đông thị trấn Di Linh. Phân ban T14 thành lập 5 đội công tác hoạt động trên các địa bàn Đạ Gùi, thị xã B’Lao, Tân Thanh, Tân Phát, An Lạc, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, phối hợp với lực lượng du kích đánh địch, phá hoại giao thông trên đường 20.

Giữa năm 1962, Tỉnh ủy thành lập Ban cán sự Đảng K3 (tức Di Linh) để chỉ đạo phong trào từ cầu Đại Ninh đến ấp 17[34]. Trên địa bàn K3 đã thành lập được 7 đội công tác làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở, hỗ trợ phong trào quần chúng, đồng thời xây dựng được chính quyền, lực lượng du kích và các đoàn thể ở 3 xã căn cứ phía Đông và Bao Tuân, Kon Rum ở phía Nam.

Trong vùng địch kiểm soát, đồng bào dân tộc không được tự do phát rẫy nên đời sống gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình đó, Ban cán sự Đảng K3 chỉ đạo các đội công tác và cơ sở cách mạng vận động trên 1.000 đồng bào và nhân dân thị trấn Di Linh kéo đến quận lỵ đấu tranh. Cùng lúc đó, đồng bào ở các buôn đã đồng loạt đốt rẫy, bất chấp mọi sự ngăn cấm của địch. Trước sức mạnh của quần chúng, địch phải nhượng bộ và đồng ý cho dân được làm rẫy gần buôn làng.

Nhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng trong các đồn điền và vùng đồng bào thiên chúa giáo di cư ở Bảo Lộc, Di Linh, cuối năm 1962, Tỉnh ủy thành lập Ban cán sự Đảng K2 và 4 đội công tác. Nhờ kiên trì bám quần chúng để tuyên truyền, vận động nên các đội công tác đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong công nhân. Ở các đồn điền Tứ Qúy, Minh Rồng, Trảng Bia, hàng trăm công nhân trực tiếp tham gia kháng chiến, nhiều người trở thành du kích hoạt động bí mật trong vùng địch kiểm soát. Trước uy thế của cách mạng và qua tuyên truyền thuyết phục, các chủ đồn điền đều chịu đóng thuế cho cách mạng. Số tiền thu được góp phần giải quyết vấn đề tài chính của tỉnh. Trong vùng đồng bào thiên chúa giáo, qua tuyên truyền vận động của các đội công tác, đồng bào dần dần hiểu được cách mạng, nhiều người trở thành cơ sở cốt cán tại chỗ.

Ngoài nhiệm vụ xây dựng và củng cố tổ chức Đảng trên các địa bàn, Tỉnh ủy còn chú trọng công tác phát triển đảng viên để làm nòng cốt cho phong trào. Đến giữa năm 1962, toàn tỉnh có 24 chi bộ với 255 đảng viên và một số đảng viên hoạt động đơn tuyến. Các chi bộ thường xuyên bám sát phong trào để chỉ đạo, đồng thời làm tốt công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ.

Tháng 8 năm 1962, Tỉnh ủy tổ chức Đại hội đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh lần thứ 2 tại Pi-Cút nhằm tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc và động viên đồng bào hăng hái tham gia kháng chiến. Tham dự Đại hội là những đại biểu ưu tú thay mặt cho hơn 7.000 đồng bào các dân tộc mạ, K’Ho, S’Tiêng… trong vùng giải phóng của tỉnh. Đại hội biểu thị tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, một lòng đi theo Đảng làm cách mạng, tích cực đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bố phòng chống địch, vận động con em tham gia công tác cách mạng, gia nhập lực lượng vũ trang. Lễ đâm trâu ăn thề tổ chức tại Đại hội thể hiện sự đoàn kết và ý chí sắt đá của đồng bào các dân tộc. Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh do đồng chí Lam Sơn làm Chủ tịch[35].

Phát huy thắng lợi của Đại hội, Tỉnh ủy chủ trương tổ chức các lớp học văn hóa tập trung ở vùng căn cứ. Lớp học đầu tiên tại buôn Đăng Lú có trên 40 nam nữ thanh niên các dân tộc tham gia, sau 3 tháng học tập mọi người đều biết đọc, biết viết. Những học viên đầu tiên ấy đã mang “cái chữ, con số” của cách mạng tiếp tục đến dạy ở các buôn Tà Mộ, Tà Pao, Măng Tố, La Xung và mở rộng trong vùng căn cứ. Kết quả bước đầu của các lớp học văn hóa là điều kiện thuận lợi đưa sách báo cách mạng đến với đồng bào, góp phần làm thất bại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của địch.

Do yêu cầu chỉ đạo đối với các địa phương, Tỉnh ủy tiến hành sắp xếp lại tổ chức và phân chia các vùng căn cứ. Ngày 2 tháng 9 năm 1963, Tỉnh ủy quyết định giải thể Phân ban T14, thành lập Thị ủy B’Lao, lấy phiên hiệu T29 và thành lập Ban cán sự Đảng K4 phụ trách địa bàn từ Đạ Gùi đến đèo Ba Cô.

Vùng căn cứ phía Bắc đường 20  chia làm 4 vùng: vùng 1 gồm khu vực bãi Cát Tiên và Bờ Xa Lu Xiên. Vùng 2 từ dốc Con Ó đến Bờ Xu Đờn, gồm các xã 1, 2, 3, 4. Vùng 3, gồm các xã Lú Tôn, Xa Nhon, Hợp Vông. Vùng 4, từ Btru Đinh qua Hàng No lên đến xã 5 (kể cả vùng Tân Rai, Minh Rồng, B’Kẻ).

Vùng căn cứ phía Nam đường 20 chia thành 5 xã: xã Đông, xã Nam, xã Bắc, Tà Ngào, Bờ Gia, Kon Rum và Bơ Tuân.

Chủ trương phân vùng dân cư của tỉnh nhằm tạo điều kiện cho mỗi vùng phát huy thế mạnh trong sản xuất và tạo thế đánh địch bảo vệ căn cứ.

Trên chiến trường miền Nam, mặc dù Mỹ -Diệm đã tập trung mọi lực lượng để thực hiện kế hoạch Xta-lây-Tay-lơ nhưng chúng vẫn liên tiếp thất bại, nội bộ ngụy quyền lục đục, chia rẽ. Nhằm thực hiện kỳ được “quốc sách ấp chiến lược”, chúng dùng mọi thủ đoạn đàn áp, khủng bố đồng bào miền Nam và hy vọng rằng khi kế hoạch đó thành công sẽ tiến sâu vào các căn cứ tiêu diệt hoàn toàn lực lượng cách mạng. Tuy nhiên trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam, Mỹ -Diệm vẫn không xoay chuyển được tình hình và ngày càng bị động, bế tắc. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, đế quốc Mỹ buộc phải làm đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên thay nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền tay sai.

Ở Lâm Đồng, địch đẩy mạnh dồn dân lập ấp chiến lược. Đồng bào ở những vùng xa bị chúng dồn vào  các ấp chiến lược xung quanh thị xã, thị trấn, dọc đường giao thông quan trọng để dễ kiểm soát và làm vành đai bảo vệ. Lực lượng quân ngụy tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét vào các vùng căn cứ, đánh phá đường hành lang chiến lược Nam-Bắc từ hai hướng, một hướng ở Bảo Lộc đánh lên, một hướng từ Bù Đăng (Phước Long) đánh sang. Ở Tân Rai, Mỹ-ngụy xây dựng trung tâm huấn luyện biệt kích người dân tộc. Sau mỗi khóa huấn luyện lực lượng này được tung ra  các địa bàn để đánh phá căn cứ, hành lang và cơ sở cách mạng. Ngoài ra địch còn xây dựng thêm nhiều đồn bót ở chi khu Đạ Huoai, Ma Đagui, đồn dân vệ ở An Lạc.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Lâm Đồng chủ trương: ở vùng căn cứ, vừa sẵn sàng đánh địch càn quét, vừa phát triển thực lực tại chỗ, xây dựng căn cứ mạnh về mọi mặt đủ sức bám trụ và giữ vững lâu dài. Ở phía trước, tích cực xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, tiến lên đánh địch bằng 3 mũi giáp công, làm tan rã bộ máy kèm, giành quyền làm chủ ở vùng yếu.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, trong năm 1963 và những tháng đầu năm 1964, lực lượng vũ trang trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động trên các địa bàn ở phía trước. Các đơn vị vũ trang có sự phối hợp của lực lượng du kích đánh địch 74 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, thu  84 súng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá 27 ấp chiến lược, giải phóng hơn 10.000 dân. Ở các vùng căn cứ, chính quyền cách mạng ở cơ sở từng bước được củng cố, đồng bào hăng hái tăng gia sản xuất, tích cực bố phòng bảo vệ căn cứ. Hàng trăm thanh niên tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang và thành lập thêm 50 tổ du kích làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ. Trong các buôn làng đã mở thêm gần 100 lớp học văn hóa cho gần 3.000 con em đồng bào các dân tộc theo học.

Phối hợp với hoạt động quân sự và phong trào nổi dậy của quần chúng, tháng 4 năm 1964, được sự chỉ đạo của cơ sở Đảng bên trong, hơn 2.500 đồng bào thị xã B’Lao biểu tình đòi lật đổ chính quyền Trần Văn Hương, đòi Tay-lơ cút về nước. Đoàn biểu tình diễu hành trên các đường phố, dương cao biểu ngữ và hô vang khẩu hiệu: “Nội bộ của Việt Nam do người Việt Nam định đoạt, đế quốc Mỹ cút về nước”.

Giữa lúc cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đang giành được những thắng lợi quan trọng, tình hình miền Nam có những biến đổi lớn, tháng 12 năm 1963, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 9 bàn về phương hướng và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam. Về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam, Hội nghị chỉ rõ: “Ra sức xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang (nhất là lực lượng vũ trang), làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh giữa ta và địch theo chiều hướng có lợi cho ta; tích cực xây dựng và mở rộng căn cứ địa, đặc biệt là những địa bàn chiến lược và cơ động của quân chủ lực, tiến lên đánh tiêu diệt và làm tan rã từng bộ phận quân đội địch; phá phần lớn các “ấp chiến lược”, làm chủ vùng rừng núi và phần lớn xã thôn vùng đồng bằng, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng ở đô thị nổi dậy mạnh mẽ[36].

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Đảng, tháng 6 năm 1964, Khu ủy 6[37] họp hội nghị mở rộng lần thứ 3 đề ra nhiệm vụ: đẩy mạnh đấu tranh chính trị và vũ trang đập tan các âm mưu địch, nhất là âm mưu củng cố lại hệ thống ấp chiến lược, đánh phá căn cứ, cắt đứt hành lang, mở rộng diện làm chủ và diện tranh chấp trên đại bộ phận nông thôn, củng cố và mở rộng căn cứ, thu hẹp vùng kiểm soát của địch.

Phối hợp với phong trào toàn Miền, từ tháng 10 năm 1964, Khu ủy và Quân khu ủy chủ trương mở đợt hoạt động Đông-Xuân 1964-1965 nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá ấp mở vùng, giải phóng phần lớn vùng nông thôn trong đó có trọng điểm chính là Phước Long và Bình Thuận.

Thực hiện Nghị quyết Khu ủy và để phối hợp với các chiến trường trọng điểm, Tỉnh ủy Lâm Đồng mở đợt hoạt động vũ trang nhằm phá banh các ấp chiến lược, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Cuối năm 1964, cơ quan Tỉnh đội được thành lập để trực tiếp chỉ đạo hoạt động của lực lượng vũ trang.

Mở đầu đợt hoạt động Đông-Xuân 1964-1965, đại đội 39 (đơn vị 210) tập kích trung đội dân vệ ấp Đạ Bình, diệt 20 tên, thu 18 súng, sau đó đánh trung đội địch chốt giữ ấp chiến lược Gung-Răng Gia diệt và bắt sống 25 tên, giải phóng 500 dân. Phát huy thắng lợi đó, trong 10 ngày đầu tháng 1 năm 1965, lực lượng vũ trang liên tục đánh địch, hỗ trợ trên 3.000 đồng bào các ấp Kon Hin, Tam Bố, ấp 12, ấp 17 (K3), ấp Bờ Xa (K4) và các ấp Kon Hin, Đạ Nga, Đạ Lào (T29) nổi dậy phá ấp chiến lược trở về  buôn làng cũ. Ngày 5 tháng 3 năm 1965, trong khi đại đội 39 tiến công tiêu diệt và bắt sống 55 tên dân vệ, giải tán 20 thanh niên chiến đấu thì  700 đồng bào ở B’Trộ nổi dậy tự giải phóng, giành quyền làm chủ.

Phối hợp với chiến dịch Phước Long- Đồng Xoài và các chiến trường khác trong khu, bước vào chiến dịch hè 1965, Tỉnh ủy Lâm Đồng xác định quyết tâm đẩy mạnh hoạt động vũ trang, kết hợp với đấu tranh chính trị đánh địch trên địa bàn trọng điểm của tỉnh; tập trung đánh phá ấp chiến lược, giải phóng dân dọc đường số 8, đường 20 nhằm mở rộng vùng giải phóng tiếp giáp với căn cứ của tỉnh, tạo thế liên hoàn với phía Nam tỉnh Quảng Đức, cắt đứt đường giao thông của địch từ Di Linh đi Gia Nghĩa.

Ngày 3 tháng 5 năm 1965, các đại đội 31, 32 và 210 đánh đồn Tân Lú, diệt 50 tên địch, thu nhiều vũ khí. Đêm 13 tháng 4, lực lượng vũ trang đánh tập kích khu tập trung Tân Rai, tập trung bao vây, bắn tỉa buộc 5 đại đội biệt kích người dân tộc phải rút chạy, trên 800 đồng bào ở khu tập trung được giải phóng và trở về buôn làng cũ xây dựng căn cứ. Thừa thắng, ngày 27 tháng 6 tiểu đoàn 186 (bộ đội chủ lực Khu 6) tiến công đồn B’Sar, giải phóng các ấp B’Sar, Đạ Huoai, đánh sập cầu Đạ MRế, cầu Đạ Huoai, làm chủ đoạn đường 20 từ đèo Chuối đến phía Nam đèo B’Lao dài 28 cây số, giải phóng phần lớn địa bàn K4, tạo thành thế liên hoàn với vùng giải phóng Hoài Đức, Tánh Linh (Bình Thuận).

Trên địa bàn K3, lực lượng vũ trang liên tục tấn công địch và hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược dọc đường số 8, từ Tân Dân đến Kênh Dạ, ta hoàn toàn làm chủ.

Như vậy đến giữa năm 1965, quân và dân trong tỉnh đã phá banh 52 khu tập trung, ấp chiến lược trên tổng số 80 khu, ấp trong vùng địch kiểm soát, giải phóng trên 20.000 dân. Thắng lợi của nhiệm vụ đánh phá hệ thống ấp chiến lược dọc đường 20 và đường số 8 đã hình thành vùng giải phóng rộng lớn, tạo điều kiện để mở rộng và xây dựng vùng căn cứ ngày càng vững chắc.

Phối hợp với phong trào phía trước, đồng bào ở các vùng căn cứ  tiếp tục đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, đồng thời tham gia dân công phục vụ phía trước và phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch. Vùng căn cứ và vùng mới giải phóng tạo thành thế liên hoàn vững chắc và là hậu phương trực tiếp lớn của tỉnh. Trên đường 20 từ đèo Chuối đến đèo B’Lao, tỉnh tổ chức thu thuế lưu thông, kết hợp với tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, vận động quần chúng  ủng hộ cách mạng. Vì vậy, ảnh hưởng và uy thế của cách mạng không ngừng được nâng cao, tạo điều kiện cho công tác binh vận, tranh thủ tầng lớp trên, khống chế ngụy quân, ngụy quyền. Sĩ quan và binh lính địch muốn lên Đà Lạt cũng phải cải trang giả dạng dân thường và chịu sự kiểm soát của ta[38].

Ngoài ra Tỉnh còn mở các cửa khẩu bán lâm thổ sản, đó cũng là cách che mắt địch để nhận tiếp tế hàng hoá từ vùng địch tạm kiểm soát đưa ra. Hàng năm số tiền thu thuế trên đường 20, thu thuế các đồn điền và số hàng hoá mua bán ở các cửa khẩu đã giải quyết phần lớn vấn đề tài chính của tỉnh, Khu 6, góp phần phục vụ đời sống và sản xuất ở các vùng căn cứ.

Công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên được Tỉnh ủy  quan tâm chỉ đạo. Đội ngũ đảng viên không ngừng tăng lên về số lượng, chất lượng, phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu và có mặt ở trên các địa bàn. Năm 1964, toàn tỉnh có 47 chi bộ với 400 đảng viên, riêng 10 xã vùng căn cứ  có 19 chi bộ với 136 đảng viên. Đến giữa năm 1965 đã có 61 chi bộ với 638 đảng viên, số đảng viên nữ chiếm 12%, ở vùng căn cứ  bình quân 27 quần chúng  có một đảng viên. Các chi bộ Tân Gia Rang, Hăng Ka (K2), Bờ Gia (K4), Kon Rum, Bơ Tuân (K3) đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo quần chúng xây dựng và bảo vệ căn cứ.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên được tiến hành đều đặn thông qua các đợt chỉnh huấn; học tập các Nghị quyết của Đảng và mục đích, yêu cầu xây dựng chi bộ 4 tốt. Nhờ vậy, nhận thức của đảng viên từng bước được nâng lên, khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ và đã phát huy tốt vai trò gương mẫu trong chiến đấu và công tác.

II. Đảng bộ Tuyên Đức lãnh đạo phong trào chống dồn dân, quyết tâm bám trụ đánh địch xây dựng thực lực cách mạng

Sau gần hai năm thực hiện nhiệm vụ mở mảng, mở vùng đến giữa năm 1961, các đội vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh 3 và Liên tỉnh 4 đã xây dựng phong trào cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc rộng lớn với hơn 6.000 dân từ buôn Đồng Mang, Đạ Tro phía Đông Bắc Đà Lạt chạy dài dọc theo sông K’Rông Nô và sông Đạ R’Măng đến buôn Păng Xim, Păn Thang phía Tây Bắc Đà Lạt được nối liền với vùng giải phóng phía Nam tỉnh Đắc Lắc tạo thành vùng căn cứ  liên hoàn.

Để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương, tháng 8 năm 1961, Khu ủy 6 quyết định thành lập Tỉnh ủy  Tuyên Đức[39], lấy phiên hiệu B8 Tỉnh uỷ, gồm 5 đồng chí do đồng chí Huỳnh Minh Nhựt làm Bí thư, đồng chí Đinh Sĩ Uẩn và đồng chí Nguyễn Xuân Khanh làm Uỷ viên Thường vụ.

Do yêu cầu chỉ đạo trên từng địa bàn, Tỉnh ủy thành lập ban cán sự Đảng huyện ủy Đức Trọng do đồng chí Ma Thu làm Bí thư và chia vùng giải phóng ở huyện Lạc Dương thành hai vùng: Vùng A từ Đồng Mang Đạ Tro lên đến K’Long, La Hia. Vùng B từ Đầm Ròn lên Liên Trang, Rô Men và dọc sông K’Rông Nô đến giáp phía Bắc đường 21 kéo  dài. Mỗi vùng đều có Ban cán sự Đảng trực tiếp chỉ đạo. Ở Đà Lạt thành lập Thị uỷ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Văn Phận làm Bí thư và đồng chí Nguyễn Lâm làm Phó Bí thư.

Nhằm bảo vệ vùng mới giải phóng của Tỉnh, ngày 20 tháng 10 năm 1961, lực lượng vũ trang phục kích trung đội thám báo địch càn quét tại K’Rơ Nớ. Trận đánh này vừa hỗ trợ tiếp tục mở rộng phong trào, vừa có tác động đối với phong trào đấu tranh chính trị bên trong thị xã Đà Lạt.

Nằm trong kế hoạch chiến lược chung, từ giữa năm 1961, ở Tuyên Đức địch đẩy mạnh các hoạt động chính trị, quân sự. Mỗi quận có một trung đội biệt kích, 200 dân vệ và trên 200 thanh niên hương thôn, riêng tiểu đoàn bộ binh thuộc sư đoàn 23 bố trí chốt giữ những vị trí quan trọng. Chúng đề ra kế hoạch “An ninh lãnh thổ” nhằm các mục tiêu: tuần tiễu, phục kích đánh lực lượng  ta, tổ chức thanh niên vũ trang, cán bộ hương thôn, lập thôn ấp kiểu mẫu.

Ở huyện Đức Trọng, địch xây dựng trại huấn luyện biệt kích người dân tộc tại Đạ MPao do cố vấn Mỹ trực tiếp huấn luyện và chỉ huy. Lực lượng này chuyên thăm dò, đánh phá căn cứ, hành lang và cơ sở cách mạng.

Đầu năm 1962, địch tập trung lực lượng  đánh phá vùng mới giải phóng, dồn dân vào vùng chúng kiểm soát. Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1962, chúng sử dụng các đơn vị vũ trang, lực lượng  biệt kích, kết hợp với bọn tề điệp, mục sư thầy giảng tại chỗ hù doạ, cưỡng ép và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo lôi kéo trên 2.000 đồng bào ở 20 buôn thuộc hai xã Đa Kao, K’RNớ và một số buôn thuộc xã Diêng Le về quận lỵ Lạc Dương. Sau khi ta đánh đồn Fi Yàn, địch phản ứng bằng âm mưu mở chiến dịch “Đồng Tiến” càn quét và dồn dân phía Bắc đường 21 kéo dài. Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1962, chúng huy động hai tiểu đoàn cộng hoà, hai đại đội Bảo an, hai trung đội dân vệ cưỡng ép dồn dân từ Phi Có đến Phi Liên và từ đường 21 kéo dài vào đến hai xã Rô Men, Đạ MRong về hai khu vực Riông bô Liêng và Đạ MPao (khoảng 10.000 người).

Để tiến hành dồn dân, lập ấp chiến lược trên quy mô lớn[40], đến tháng 3 năm 1962, địch đã xây dựng thí điểm 3 ấp chiến lược: Đời Mới (Đơn Dương), Gia Thạnh (Đức Trọng), B’Nơ A (Lạc Dương) và lấy khu tập trung Tiêng Liêng (nay thuộc xã Đạ Sa), xã Lát (Lạc Dương) làm thí điểm  xây dựng thôn ấp kiểu mẫu.

Kết hợp với hoạt động quân sự, địch tiếp tục thực hiện “tôn giáo hoá” trong đồng bào dân tộc nhất là đạo tin lành và cơ đốc giáo, đào tạo các mục sư thầy giảng người dân tộc. Chúng dùng thần quyền giáo lý để đầu độc, dùng vật chất mua chuộc quần chúng; đồng thời kết hợp với bọn tề điệp tại chỗ khống chế, cưỡng ép đồng bào, do đó đã gây cho ta nhiều khó khăn trong xây dựng và bảo vệ căn cứ, phát triển thực lực cách mạng.

Đầu tháng 3 năm 1962, Tỉnh ủy Tuyên đức họp hội nghị mở rộng lần thứ nhất để kiểm điểm, đánh giá phong trào cách mạng địa phương và đề ra nhiệm vụ trước mắt: Vừa tập trung sức củng cố vùng mới giải phóng, chống âm mưu dồn dân của địch, vừa đẩy mạnh hoạt động vào vùng địch để mở rộng vùng giải phóng đến vùng dân tộc phía Tây huyện Đức Trọng giáp với Lâm Đồng (cũ); đồng thời tiếp tục móc nối, xây dựng cơ sở nội ô và vùng người Kinh ven Đà Lạt.

Thực hiện Nghị quyết Tỉnh ủy, ngày 6 tháng 4 năm 1962, trung đội đặc công của Tỉnh (K1) phối hợp với một đại đội bộ binh của Quân khu 6 tập kích cứ điểm Fi Yàn ở Phú Sơn, diệt một trung đội dân vệ, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó vũ trang tuyên truyền ở ấp Bằng Tiên và tổ chức phục kích tại ấp Ngọc Sơn chặn đánh một tiểu đoàn cộng hoà đến chi viện cho Fi Yàn. Trận đánh này không những có ảnh hưởng lớn trong đồng bào vùng dân tộc phía Tây huyện Đức Trọng mà còn tác động vào thị xã Đà Lạt. Để tăng cường thêm lực lượng, Tỉnh ủy thành lập thêm một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trên địa bàn phía Tây xã Phú Sơn và một đội hoạt động vùng dân tộc phía Tây thị xã Đà Lạt.

Để hỗ trợ đồng bào khu vực Đầm Ròn đấu tranh chống địch dồn dân, ngày 23 tháng 9 năm 1962, tại Liên Trang, đại đội 143 của tỉnh phục kích đánh tiêu hao một đơn vị biệt kích địch. Tháng 10 năm 1962, địch mở chiến dịch “An Lạc” đưa một tiểu đoàn cộng hoà và một trung đội dân vệ đến đóng cứ điểm dã ngoại tại Đầm Ròn làm nơi xuất phát hành quân càn quét đánh phá hành lang, căn cứ cơ quan Tỉnh ủy Tuyên Đức và Khu ủy 6 xung quanh khu vực Đầm Ròn. Tháng 11 năm 1962, Khu ủy và Quân khu ủy 6 chủ trương tiêu diệt cứ điểm Đầm Ròn ngăn chặn âm mưu địch và phá khu tập trung. Với quyết tâm đó, đêm 5 tháng 12 năm 1962, hai tiểu đoàn 186 và 120 của khu, C143 và trung đội đặc công của Tỉnh tập kích cứ điểm Đầm Ròn, diệt 300 tên địch, phá hủy hai khẩu pháo 105 ly. Ngày hôm sau địch phản kích quyết liệt, dùng 11 máy bay trực thăng chở lực lượng bộ binh của vùng chiến thuật 23 đến giải toả và gom dân Đầm Ròn về vùng chúng kiểm soát.

Như vậy trong suốt năm 1962, mặc dù ta tập trung lực lượng chống lại âm mưu càn quét, gom dân của địch, nhưng vì lực lượng  ta ít, vùng giải phóng quá rộng và chưa kịp củng cố nên đến cuối năm 1962 về cơ bản địch đã gom dân vùng dân tộc phía Bắc và Tây Bắc Đà Lạt về các khu tập trung, ấp chiến lược. Vùng giải phóng của tỉnh từ 6.000 dân (giữa năm 1961) đến cuối năm 1962 chỉ còn lại khoảng 1.200 dân ở các buôn Tà Xị, Pan Thing Ít, Rô Men, Đồng Mang, Đạ Tro, K’Si (Lạc Dương), Păn Thang, Đ’Rao (phía Tây Bắc Đức Trọng) nhưng đều phải chuyển ra ở thế bất hợp pháp.

Ở thị xã Đà Lạt, các đội công tác vừa vận dụng phương thức “cầu chuyền” vừa đột nhập vào bên trong để móc nối cơ sở. Nhờ vậy đến cuối năm 1962, toàn bộ những cơ sở bị đứt liên lạc từ các năm trước đều hoạt động trở lại và phát triển thêm một số cơ sở ở Quảng Hiệp (Đức Trọng). Hoạt động chủ yếu của cơ sở lúc này là vận động quần chúng đấu tranh, vận động thanh niên thoát ly tham gia các đội công tác và tổ chức tiếp tế cho lực lượng  bên ngoài.

Sau khi bị ta tập kích tiêu diệt cứ điểm Đầm Ròn, sang năm 1963 bọn địch ở Tuyên Đức tập trung lực lượng  phản kích ác liệt hơn. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1963 tiếp tục dồn dân, lập ấp chiến lược với quy mô lớn. Ở phía Tây Nam Đà Lạt, chúng đưa lực lượng  biệt kích đến phối hợp với bọn tề điệp, mục sư thầy giảng tại chỗ để cưỡng ép đồng bào rời bỏ buôn làng vào sống trong các khu tập trung Đạ Me, Suối Thông A. Trên đường 21 kéo dài, địch huy động hai tiểu đoàn cộng hoà cùng với bọn tề điệp cưỡng bức trên 1.000 đồng bào phía Tây sông Đạ R’Măng về các khu tập trung Đạ P’Rét, Dăm Pao, R’Lơm và tiếp tục dồn gần 700 đồng bào ở các buôn Păn Thang, Đ’Rao, Rô Men về vùng chúng kiểm soát. Như vậy, đến cuối năm 1963, địch đã dồn trên 50.000 dân vào 108 ấp chiến lược, khu tập trung. Vùng giải phóng của tỉnh chỉ còn trên 300 dân ở các buôn Đồng Mang, Đạ Tro, K’Si ở phía Đông huyện Lạc Dương. Riêng số dân ở hai buôn Tà Xị, Pan Thing Ít ta chuyển sang ở vùng giải phóng phía Đông Nam tỉnh Đắc Lắc, còn lại gần 100 dân giao cho  tỉnh Quảng Đức phụ trách (cùng với việc giao huyện Đức Trọng cho Quảng Đức).

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mở mảng giành dân, vùng giải phóng của Tỉnh tuy rộng lớn nhưng phần lớn đồng bào dân tộc theo Tin lành và Cơ đốc nên địch dùng thần quyền giáo lý để lừa phỉnh lôi kéo. Trong khi đó, lực lượng  vũ trang và các cơ quan tỉnh, huyện mới được hình thành, số lượng ít và không đủ sức đánh địch, giữ dân. Để tập trung chỉ đạo phong trào thị xã Đà Lạt và vùng Kinh ven thị xã, tháng 5 năm 1963, Khu ủy 6 quyết định tạm giao huyện Đức Trọng cho tỉnh Quảng Đức phụ trách và thu gọn Tỉnh ủy Tuyên Đức lại thành Ban cán sự Đảng Tuyên Đức-Đà Lạt do đồng chí Huỳnh Minh Nhật làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Lâm và đồng chí Chế Đặng làm uỷ viên thường vụ.

Trước tình hình địch tập trung đánh phá phong trào cách mạng, dồn dân vào các khu tập trung, ấp chiến lược, Ban cán sự  Đảng tỉnh chủ trương: động viên cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị khắc phục mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm bám trụ địa bàn, giữ cho được số dân còn lại ở huyện Lạc Dương để  xây dựng căn cứ, tạo bàn đạp đứng chân từng bước đưa phong trào phát triển, đồng thời đẩy mạnh phong trào Đà Lạt lên một bước. Trong năm 1963, do địch đánh phá ác liệt nên các cơ quan, đơn vị không sản xuất được, tình hình thiếu đói xảy ra nghiêm trọng. Hàng ngày, cán bộ chiến sĩ chỉ ăn lá bép, chuối cây, củ rừng nhưng vẫn kiên trì bám trụ địa bàn, vừa đánh địch càn quét, bảo vệ dân, vừa sản xuất để giải quyết lương thực. Sau khi ta đánh ấp chiến lược Pờ teng không thành công, một số cán bộ chiến sĩ tỏ ra bi quan, giao động. Trước tình hình đó, Ban cán sự  Đảng tỉnh chú trọng công tác giáo dục, động viên tư tưởng, xây dựng ý chí cách mạng cho cán bộ chiến sĩ, nhờ đó đã ổn định được tư tưởng nội bộ. Cuối tháng 12 năm 1963 cơ quan lãnh đạo tỉnh và lực lượng  vũ trang của tỉnh chuyển về căn cứ Đồng Mang, Đạ Tro để có điều kiện đẩy mạnh tăng gia sản xuất, củng cố lực lượng  và xây dựng thế đứng vững chắc cho việc chỉ đạo phong trào Đà Lạt.

Sau khi dồn hết số dân vùng ta mới giải phóng vào vùng chúng kiểm soát, sang năm 1964, địch tiếp tục dồn dân lập “ấp chiến lược”, “ấp tân sinh” trên quy mô toàn tỉnh. Đồng thời dùng lực lượng  nhỏ thường xuyên lùng sục, phục kích ven ấp ven rừng, đánh phá vùng bàn đạp và đường hành lang của ta. Lực lượng địch lúc này có 3 tiểu đoàn bảo an với 1.225 tên, 1.137 tên dân vệ, 3.120 thanh niên chiến đấu và 834 tên Mỹ (bao gồm lực lượng  cố vấn, công binh, pháo binh, biệt kích). Chúng sử dụng 2/3 lực lượng  trên để yểm trợ việc  xây dựng ấp chiến lược, ấp tân sinh, kết hợp với 12 đoàn bình định nông thôn, trường sơn và tề điệp tại chỗ đánh phá cơ sở cách mạng, khống chế và mua chuộc quần chúng.

Để kịp thời đối phó và ngăn chặn những âm mưu thủ đoạn của địch, tháng 6 năm 1964, Ban cán sự Đảng tỉnh họp mở rộng đề ra nhiệm vụ cấp bách trước mắt là: Đối với vùng địch kiểm soát, tích cực  xây dựng, mở rộng cơ sở ở các ấp dọc đường 11, đường 20 và vùng dân tộc phía Đông Nam Đà Lạt. Ra sức  xây dựng, củng cố cơ sở bên trong thị xã Đà Lạt, gắn chặt với việc đẩy mạnh đánh phá ấp chiến lược. Đối với vùng căn cứ ở Lạc Dương, tích cực  xây dựng các mặt chính trị, quân sự, kinh tế nhằm bảo đảm thế đứng chân của cơ quan chỉ đạo và lực lượng  vũ trang tỉnh.

Nhằm động viên tinh thần cán bộ, chiến sĩ và chỉ đạo sát thực tế, Ban cán sự Đảng tỉnh phân công các ủy viên xuống cùng các đội vũ trang đột ấp, phá kèm. Lực lượng vũ trang của tỉnh tổ chức lại thành hai trung đội độc lập để phối hợp với các đội công tác làm nhiệm vụ bám ấp vũ trang tuyên truyền,  xây dựng cơ sở chính trị, du kích mật và làm công tác binh vận; đồng thời đẩy mạnh hoạt động vũ trang, vừa đánh địch bung ra càn quét, vừa đột ấp diệt ác phá kèm, phá ấp chiến lược với mức độ từ thấp lên cao.

Tháng 7 năm 1964, thông qua cơ sở ở ấp Xuân Sơn cung cấp tình hình, lực lượng  vũ trang đột nhập vào khu vực nhà máy chè Cầu Đất và khu Đất Làng bắt tề, làm rã bộ máy kèm, tập trung quần chúng mít tinh, tuyên truyền. Sau đó các đơn vị tiếp tục đột nhập các ấp Trường Sơn, Xuân Sơn để vũ trang tuyên truyền và tước súng bọn thanh niên chiến đấu. Rút kinh nghiệm qua những lần đột ấp, tháng 8 năm 1964, tỉnh chỉ đạo các đơn vị mở rộng hoạt động sang địa bàn xã Xuân Thọ, xây dựng được nhiều cơ sở và rút thanh niên bổ sung cho các đơn vị.

Thực hiện nhiệm vụ đánh phá ấp chiến lược, tháng 10 năm 1964 Ban cán sự  Đảng tỉnh trực tiếp chỉ đạo lực lượng  vũ trang và đội công tác đột nhập ấp chiến lược Xuân Thành bắt ấp trưởng, xoá bộ máy tề, tước súng và giải trang tiểu đội thanh niên chiến đấu và trụ lại đến sáng hôm sau. Đây là trận đánh ấp chiến lược đầu tiên ở tỉnh Tuyên Đức. Phát huy thắng lợi đó, tháng 11 năm 1964 ta tổ chức hai trung đội độc lập đánh vào ấp chiến lược Xuân Thành lần thứ 2. Lần này các đơn vị trụ lại ban ngày đánh bọn dân vệ và một đại đội bảo an đến chi viện, diệt nhiều tên. Kết quả hai lần đánh  vào ấp chiến lược Xuân Thành không những giải quyết được tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ, khẳng định được khả năng đánh địch của các  đơn vị, mà Ban cán sự  Đảng tỉnh cũng có thêm kinh nghiệm chỉ đạo đánh phá ấp chiến lược. Vì vậy, trong 6 tháng cuối năm 1964, lực lượng  vũ trang và các đội công tác trong tỉnh đã 32 lần đột ấp vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kèm,  xây dựng cơ sở cách mạng ở các ấp Xuân Sơn, Đất Làng, Trường Sơn (xã Xuân Trường), Đa Lộc, Phụng Sơn, Xuân Thành, Đa Thọ (xã Xuân Thọ) trên đường 11, các ấp Lạc Xuân, La Bui, Bắc Hội trên đường 21 kép; Phú Thạnh, Quảng Hiệp, Định An (xã Hiệp Thạnh) trên đường 20. Qua những lần đột ấp các đơn vị vận động được nhiều thanh niên thoát ly bổ sung vào các đơn vị vũ trang và đội công tác.

Ở thị xã Đà Lạt, Ban cán sự Đảng tỉnh chủ trương đưa số cơ sở cốt cán bên trong ra vùng bàn đạp huấn luyện nhằm nâng cao trình độ và năng lực công tác, bảo đảm hoạt động lâu dài. Đầu năm 1964, một số đảng viên hoạt động đơn tuyến và cơ sở cốt cán bên trong vận động khoảng 3.000 phụ nữ chợ Đà Lạt bãi thị suốt 7 ngày và kéo đến dinh Thị trưởng đưa kiến nghị đòi bãi bỏ việc tăng thuế chợ. Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, chính quyền địch phải nhượng bộ và hủy bỏ quyết định tăng thuế.

Cùng với việc chỉ đạo phong trào ở phía trước, Ban cán sự Đảng tỉnh coi trọng nhiệm vụ xây dựng căn cứ và đẩy mạnh sản xuất tự túc để giải quyết khó khăn về lương thực. Vùng căn cứ phía Đông huyện Lạc Dương thành lập 3 chi bộ, trực tiếp lãnh đạo đồng bào tích cực bố phòng chống địch, đẩy mạnh sản xuất, do đó đời sống của đồng bào từng bước được ổn định.

Về công tác  xây dựng  Đảng, Ban cán sự  Đảng tỉnh làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, đồng thời chú trọng công tác phát triển đảng viên, củng cố tổ chức Đảng bên trong. Đến cuối năm 1964, trong vùng địch kiểm soát đã thành lập được 3 chi bộ gồm 10 đảng viên, trong đó có chi bộ 8/3 ở chợ Đà Lạt gồm 3 nữ đảng viên và chi bộ ở Đa Lộc có 4 đảng viên.

Trước những thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đang đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn. Càng thua đau, Mỹ-ngụy càng điên cuồng chống phá cách mạng, chúng tiến hành nhiều âm mưu và thủ đoạn nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh. Tại Tuyên Đức, sang năm 1965 Mỹ-ngụy tiếp tục  xây dựng và củng cố hệ thống ấp chiến lược, ấp tân sinh; tăng thêm các đơn vị pháo binh biệt kích Mỹ và hai đại đội công binh Úc làm nhiệm vụ mở đường giao thông; tiến hành  xây dựng trạm thông tin núi Bà nhằm thực hiện âm mưu  xây dựng Tuyên Đức thành vị trí chiến lược quan trọng và hậu cứ an toàn ở Nam Tây Nguyên. Để hỗ trợ cho bộ máy kèm ở cơ sở, địch thành lập thêm 12 đoàn bình định nông thôn (năm 1964 có 12 đoàn) và đưa 35 tên cảnh sát người dân tộc xuống  hoạt động trong các buôn dân tộc. Đi đôi với việc tăng cường lực lượng, chúng thường xuyên tổ chức các đơn vị nhỏ lùng sục càn quét vùng bàn đạp, nhất là vùng ven Đà Lạt hòng đánh bật lực lượng  ta ra khỏi các điểm bám trụ.

Ngoài những hoạt động quân sự, địch còn đẩy mạnh các hình thức chiến tranh tâm lý, mở nhiều khoá huấn luyện tình báo, mật vụ tìm cách cài cắm bọn mật vụ vào tổ chức mang danh nghĩa các “đoàn công tác xã hội, thanh niên, y tế, khảo sát mùa màng” để nắm tình hình, đánh phá cơ sở cách mạng bên trong.

Phối hợp với phong trào toàn miền Nam và các tỉnh khu 6, trong đợt hoạt động Đông - Xuân 1964-1965 và Hè 1965, Ban cán sự Đảng tỉnh Tuyên Đức xác định nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh trong năm 1965 là: vừa tiếp tục đánh địch, phá ấp chiến lược, diệt ác phá kèm,  xây dựng cơ sở bên trong, rút thanh niên thoát ly để  xây dựng lực lượng; đẩy mạnh sản xuất tự túc ở các cơ quan, đơn vị và nhân dân vùng căn cứ, tăng cường bố phòng chống địch càn quét. Bên trong thị xã Đà Lạt, tiếp tục xây dựng cơ sở, đưa phong trào đấu tranh của quần chúng  lên một bước. Để đủ sức hoạt động, tỉnh chủ trương sát nhập hai trung đội độc lập thành đại đội bộ binh 810.

Với quyết tâm đó, lực lượng vũ trang và các đội công tác trong tỉnh bước vào đợt hoạt động mới. Cuối tháng 1 năm 1965, lực lượng  vũ trang tập kích bót cảnh sát và đồn dân vệ Trại Mát, diệt và bắt một tiểu đội dân vệ, thu vũ khí, trận đánh này có tác động hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của Phật tử Đà Lạt. Tháng 3 năm 1965, Ban cán sự Đảng tỉnh chủ trương chuyển toàn bộ lực lượng  vũ trang sang phía Đức Trọng hoạt động đánh phá ấp chiến lược mở phong trào. Ngày 12 tháng 3, các đơn vị diệt gọn trung đội dân vệ giữ ấp và phá banh ấp chiến lược Hoạt, tạo điều kiện mở rộng bàn đạp đứng chân để  hoạt động trên đường 21 kéo dài. Sau đó các đơn vị tiếp tục  xây dựng cơ sở vùng cây số 7, cư xá Bảo An thuộc xã Liên Hiệp. Tháng 5 năm 1965, các đơn vị chuyển qua địa bàn xã Hiệp Thạnh làm nhiệm vụ đột ấp vũ trang tuyên truyền, phá kèm, xây dựng cơ sở. Nhờ rút được thanh niên thoát ly nên tỉnh thành lập thêm trung đội bộ đội địa phương huyện Lạc Dương (B 870) và một trung đội công binh.

Qua kinh nghiệm của các đợt hoạt động đánh phá ấp chiến lược, tháng 9 năm 1965, Ban cán sự Đảng tập trung lực lượng đánh Khu tập trung ấp chiến lược Tiêng Liêng Dú Tờ Nang để tiêu diệt địch và bung dân ra ngoài ở Lạc Dương. Sau khi tiêu diệt một trung đội dân vệ chốt giữ đồn, các đơn vị trụ lại 2 ngày đêm đánh địch đến phản kích. Trận đánh này tuy chưa đưa được dân về vùng căn cứ  nhưng lực lượng vũ trang tỉnh có thêm kinh nghiệm đánh địch, phá ấp chiến lược, trình độ chiến thuật được nâng lên một bước và tin vào khả năng đánh địch của mình.

Ở phía Đông thị xã Đà Lạt, sau khi  xây dựng được cơ sở hai xã Xuân Trường, Xuân Thọ, Ban cán sự Đảng tỉnh chỉ đạo các đội công tác dùng phương thức cầu chuyển tiếp tục mở phong trào,  xây dựng cơ sở các ấp Suối Cát, Hoà Bình, Lạc Xuân (Đơn Dương) và thành lập một chi bộ tại Phú Thuận gồm 3 đảng viên. Cùng thời gian đó, một đội công tác khác dựa vào cơ sở xã Hiệp Thạnh mở phong trào sang phía đường 21,  xây dựng được cơ sở ở Bắc Hội. Từ đó phong trào tiếp tục mở rộng ra ở nhiều nơi trên địa bàn huyện Đơn Dương.

Phối hợp với  hoạt động vũ trang, tháng 5 năm 1965, chi bộ Đảng chợ Đà Lạt và cơ sở bên trong vận động hàng ngàn đồng bào tham gia cuộc đấu tranh tẩy chay cuộc bầu cử Hội đồng thành phố và đòi chính quyền địch phải có những biện pháp cải thiện đời sống, phải bán gạo và thực phẩm cho dân. Do nội dung cuộc đấu tranh phù hợp với nguyện vọng của nhân dân nên đồng bào ở các ấp Nam Thiên, Xuân An, Tây Hồ, Sào Nam và vùng cây số 4 hưởng ứng sôi nổi. Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, chính quyền địch buộc phải chấp nhận giải quyết một số yêu sách.

Trong khí thế chung của phong trào đấu tranh chính trị tại Đà Lạt, nhiều Phật tử tiến bộ đã tham gia biểu tình chống chính quyền địch đàn áp, khủng bố phật giáo yêu nước tại Sài Gòn, Huế và đòi địch phải hủy bỏ các luật lệ ngăn cấm, bắt bớ các tín đồ phật tử ở chùa Linh Sơn và các chùa khác ở Đà Lạt.

Sự phối hợp, tác động lẫn nhau giữa  hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị đã đưa phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức phát triển lên một bước mới. Đến giữa năm 1965, toàn tỉnh có 13 ấp với trên 7.000 dân dọc các đường 11, 20, 21 kép lỏng rã kèm, thực lực cách mạng trên các địa bàn tiếp tục được củng cố và phát triển, qua đó tuyển chọn những người tích cực nhất để phát triển Đảng. Tính đến tháng 6 năm 1965, toàn tỉnh có 16 chi bộ với 173 đảng viên, 12 chi đoàn với 80 đoàn viên. Đó là lực lượng trực tiếp lãnh đạo và làm nòng cốt đối với phong trào cách mạng địa phương, là nhân tố quyết định đưa phong trào từng bước giành thắng lợi.

Qua 4 năm đương đầu với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, phong trào cách mạng hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức đã giành được những thắng lợi quan trọng. Đảng bộ hai tỉnh phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt để bám trụ địa bàn,  xây dựng cở sở, mở rộng phong trào. Hoạt động vũ trang vừa tiêu diệt được sinh lực địch, vừa hỗ trợ quần chúng  nổi dậy diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ. Ở Lâm Đồng, vùng giải phóng được mở rộng,  xây dựng hoàn chỉnh hai vùng căn cứ  ở Nam, Bắc đường 20 và góp phần củng cố, bảo vệ đường hành lang chiến lược Nam - Bắc.

Tuy nhiên, phong trào cách mạng mỗi tỉnh vẫn còn có mặt hạn chế. Tại Lâm Đồng, phong trào đấu tranh chính trị ở thị xã, thị trấn và trong các đồn điền còn yếu, chưa phối hợp chặt chẽ với hoạt động vũ trang. Ở Tuyên Đức, do không giữ được số dân vùng mới giải phóng nên vùng căn cứ  bị thu hẹp, chưa giải quyết được hậu cần tại chỗ để bảo đảm cho các cơ quan, đơn vị  hoạt động liên tục. Hoạt động vũ trang tuy có nhiều chuyển biến tốt nhưng vẫn chưa phá banh được khu tập trung, ấp chiến lược để đưa dân về buôn làng cũ. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới.

Chương III

ĐẢNG BỘ HAI TỈNH LÂM ĐỒNG (CŨ)-TUYÊN ĐỨC

NÊU CAO QUYẾT TÂM GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI

CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

(Từ tháng 6 năm 1965 đến cuối năm 1968)

 

Bị thất bại nặng nề trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào miền Nam nhằm thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đồng thời mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc. Dựa vào lực lượng quân Mỹ, chư hầu và hơn nửa triệu quân ngụy, đế quốc Mỹ hy vọng sẽ giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Trước tình hình đó, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) nhận định âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Trên cơ sở phân tích một cách khoa học và toàn diện so sánh lực lượng giữa ta và địch, hội nghị khẳng định: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch”[41]. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là: “Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”[42].

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng, tháng 3 năm 1966, Trung ương Cục miền Nam họp hội nghị lần thứ tư để quán triệt tình hình và đề ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là: “Quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh xâm lựơc của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, ra sức đẩy mạnh ba cao trào vũ trang, chính trị và binh vận, xây dựng lực lượng ta lớn mạnh về mọi mặt, phát động nhân dân du kích chiến tranh rộng rãi và toàn diện, đồng thời khẩn trương xây dựng chủ lực, ra sức tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bại các âm mưu quân sự, chính trị, kinh tế, bình định nông thôn, kèm kẹp đô thị của địch”[43].

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, Hội nghị nêu lên 4 công tác lớn ở miền Nam:

1. Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, phát động phong trào chiến tranh du kích rộng khắp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ và ngụy.

2. Mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước. Đẩy mạnh cao trào đấu tranh chính trị và binh vận.

3. Đẩy mạnh công tác dân vận.

4. Tăng cường công tác xây dựng Đảng.

Trên cơ sở đánh giá những thắng lợi ta đã giành được, những thất bại của địch trong năm 1965, hội nghị khẳng định: Ta hoàn toàn có khả năng đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Sau khi tăng cường thêm lực lượng, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1966, Mỹ -Ngụy mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất. Với chiến dịch “Năm mũi tên” mà trọng điểm là các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng khu 5, chúng hy vọng sẽ “bẻ gãy xương sống Việt Cộng”, tiêu diệt lực lượng quân giải phóng và giành lại những vùng đã mất. Trên chiến trường miền Nam, địch tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 tên địch, trong đó có 42.000 tên Mỹ.

Trên chiến trường khu 6, tuy không phải là trọng điểm của cuộc phản công, nhưng từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1966 Mỹ - ngụy đã tiến hành 306 cuộc hành quân càn quét nhằm bình định nông thôn và đánh phá các vùng căn cứ của ta. Phối hợp với toàn miền, quân và dân Khu 6 bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, tiêu biểu là chiến dịch Đông - Bắc (Phước Long), chiến dịch Tam Giác Hàm Thuận (Bình Thuận).

Tháng 5 năm 1966, Khu ủy 6 họp Hội nghị quán triệt Nghị quyết hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Đảng và Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Cục miền Nam. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt là: “Quyết tâm giữ vững và phát triển thế chủ động tấn công địch, đẩy mạnh ba cao trào nhằm tiêu hao, tiêu diệt làm tam rã lực lượng và hậu phương địch, đánh bại các âm mưu mới của chúng, đẩy địch lùi sâu hơn nữa vào thế bị động lúng túng, giành về ta vùng nông thôn còn lại, đưa phong trào thị xã, thị trấn tiến lên, nhanh chóng xây dựng vùng giải phóng và vùng căn cứ thành hậu phương vững mạnh”[44]. Hội nghị còn đề ra những công tác lớn nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Về công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Khâu quan trọng là phát triển đảng viên, xây dựng củng cố chi bộ về mọi mặt làm cho chi bộ bám chắc vào quần chúng và trở thành bộ tham mưu có khả năng lãnh đạo toàn diện các nhiệm vụ công tác của Đảng. Phương châm phát triển Đảng là tích cực nhưng phải thận trọng, nhanh nhưng phải chắc, số lựơng là quan trọng nhưng chất lượng là chủ yếu, phát triển phải đi đôi với củng cố. Đồng thời tiến hành triển khai cuộc vận động xây dựng chi bộ 5 tốt trong cơ quan, 3 tốt trong lực lượng vũ trang và 4 tốt ở địa phương.

Hội nghị lần thứ 5 của Khu ủy 6 là một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với phong trào các địa phương trong khu. Trên cơ sở quán triệt các Nghị quyết của Đảng, Đảng bộ hai tỉnh Lâm Đồng (cũ) và Tuyên Đức lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương tiếp tục phát triển, giành thắng lợi lớn, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

I. Đảng bộ Lâm Đồng (cũ) lãnh đạo phong trào du kích chiến tranh, tích cực đánh địch giữ vững và mở rộng vùng giải phóng

1.Kết hợp chặt chẽ phương châm “hai chân ba mũi”, mở rộng phong trào ở phía trước và xây dựng vùng căn cứ vững mạnh

Phát huy thắng lợi đã giành được trong Đông -Xuân 1964-1965, qua đợt hoạt động Hè-Thu 1965, phong trào cách mạng ở địa phương tiếp tục phát triển mạnh. Lực lượng vũ trang trong tỉnh liên tục tiến công địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Trên thực tế, địch chỉ kiểm soát được thị xã B’Lao, thị trấn Di Linh và một số ấp dọc đường 20. Toàn tỉnh có 54 ấp chiến lược bị phá banh (trong tổng số 79 ấp, chiếm gần 70%), trên 20.000 dân được giải phóng (chiếm trên 30%). Ta hoàn toàn làm chủ các ấp dọc đường số 8, nhiều đoạn trên đường 20 và 90% đất đai trong tỉnh.

Để cứu vãn sự thất bại, mùa khô năm 1965-1966, quân địch ở Lâm Đồng mở nhiều cuộc hành quân càn quét những vùng ta mới giải phóng thuộc K2, K3, T29 để đưa dân vào các ấp chiến lược xung quanh thị xã, thị trấn và dọc đường 20. Đối với vùng căn cứ và vùng tranh chấp, chúng vừa hành quân càn quét, vừa ném bom bắn phá gây tâm lý hoang mang, giao động, lôi kéo nhân dân chạy vào vùng chúng kiểm soát, tạo các khu vực vành đai nhằm chia cắt lực lượng ta ở bên ngoài với nhân dân bên trong các ấp chiến lược.

Trong vùng địch kiểm soát, chúng tập trung xây dựng lực lượng bảo an, dân vệ, củng cố bộ máy kèm ở các cơ sở để đối phó các hoạt động của ta, đánh phá phong trào cách mạng tại chỗ. Mặt khác, chúng thực hiện nhiều thủ đoạn bao vây kinh tế, tăng cường hoạt động chiến tranh tâm lý, thành lập các tổ chức phản động để tập hợp quần chúng chống lại cách mạng.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Lâm Đồng nêu quyết tâm: tích cực đánh phá làm lỏng rã kèm của địch theo phương châm đánh địch bằng “hai chân ba mũi” với giành quyền làm chủ của quần chúng. Lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh tiêu diệt lực lượng địch, phá phương tiện chiến tranh của chúng, vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở chính trị, du kích mật trong vùng địch kiểm soát. Vùng căn cứ và vùng giải phóng của ta phải thường xuyên giáo dục, động viên quần chúng đẩy mạnh tăng gia sản xuất lương thực, sẵn sàng đi  dân công, tham gia phục vụ chiến đấu và hăng hái bố phòng chống địch càn quét đánh phá.

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ trên, Tỉnh ủy tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cơ quan, đơn vị nhằm làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ quán triệt tinh thần các Nghị quyết của Đảng, thấy được những âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Đợt chỉnh huấn đã tạo được sự chuyển biến về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Sau đợt chỉnh huấn, lực lượng vũ trang trong tỉnh liên tục hoạt động đánh địch ở phía trước, nhiều trận chiến đấu đạt hiệu quả cao. Ngày 9 tháng 3 năm 1966, ba đại đội của Tiểu đoàn 186 và đại đội 210 đánh tiểu đoàn “Cọp đen” biệt động ngụy tại Đinh Trang Thượng, diệt một đại đội. Đêm 20 tháng 6 tiểu đoàn 186 và đại đội 48 tập kích đại đội bảo an chốt giữ đồn Quỳnh Hoa (An Lạc) diệt 50 tên, sau đó phục kích đánh tiểu đoàn 184 của địch đến chi viện, diệt hàng trăm tên. Ở thị xã B’Lao, thị trấn Di Linh, du kích mật tiêu diệt 13 tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, cảnh cáo 162 tên khác. Du kích mật còn điều tra nắm tình hình địch để cung cấp cho lực lượng ta ở bên ngoài, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

Trong năm 1966, lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh địch 274 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.617 tên (có 42 tên Mỹ), thu gần 100 súng, bắn cháy và bị thương 9 máy bay. Thắng lợi đó đã làm thất bại âm mưu bình định, giành dân của địch, buộc chúng phải co cụm về thị xã, thị trấn và một số đồn bốt trên đường 20.

Thực hiện phương châm tiến công địch bằng “hai chân ba mũi”, phong trào đấu tranh chính trị có bước chuyển biến mới. Chỉ tính ba tháng đầu năm 1966, cơ sở bên trong đã phát động và tổ chức 18 cuộc đấu tranh (năm 1965 chỉ có 17 cuộc đấu tranh) với hàng nghìn lượt người tham gia. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh ngày 9 tháng 6 năm 1966 của hơn 2.000 đồng bào phật giáo thị xã B’Lao chống chính quyền Thiệu -Kỳ. Nhiều cuộc đấu tranh đã được các tầng lớp nhân dân tham gia, ủng hộ và tranh thủ được sự đồng tình của một số binh lính địch. Nội dung đấu tranh đều nhằm vào các mục tiêu:

- Đòi tự do đi lại làm ăn, được về buôn cũ phát rẫy.

- Đòi được tự do mua gạo, muối.

- Chống bắn pháo vào rừng, vào rẫy. Đòi bồi thường về người và của do chúng gây ra.

- Chống bắt dân rào lại ấp chiến lược.

- Đòi thả những người bị bắt.

Trước sức mạnh và lý lẽ của quần chúng, địch phải chấp nhận một số yêu sách như: hứa không bắn pháo vào rẫy, vào buôn; nhận bồi thường thiệt hại tài sản và cứu chữa người bị thương, nhân dân được tự do đi lại làm ăn hơn trước.

Phối hợp với phong trào ở phía trước, vùng căn cứ phía sau được xây dựng thành hậu phương vững chắc của tỉnh. Cuối năm 1965, Tỉnh ủy chủ trương phát động cải cách dân chủ trong đồng bào dân tộc ít người vùng căn cứ. Cuộc vận động được làm thí điểm ở buôn Đạ Nua, sau đó thực hiện rộng rãi trong hai vùng căn cứ phía Nam và phía Bắc đường 20. Để phù hợp với trình độ nhận thức và phong tục tập quán của đồng bào, cuộc vận động cải cách dân chủ được tiến hành gọn nhẹ nhưng có nội dung sâu sắc. Đối với các chủ làng và những người có uy tín trong đồng bào ta kiên trì tuyên truyền về chính sách dân tộc của Đảng, vận động họ ủng hộ cách mạng; thấy được những âm mưu, thủ đoạn  thâm độc của địch nhằm gây chia rẽ, thù hằn giữa các dân tộc. Đối với quần chúng cơ bản, thông qua giáo dục truyền thống đoàn kết, ý thức tương trợ lẫn nhau và phân tích cho đồng bào hiểu rõ núi rừng là của chung chứ không phải là của những người có thế lực[45], mọi người được tự do làm ăn và cùng nhau bảo vệ nương rẫy. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, ta còn vận động đồng bào bỏ dần một số phong tục tập quán lạc hậu, mê tín, dị đoan làm ảnh hưởng đến sản xuất, tinh thần đoàn kết và đời sống của đồng bào.

Cuộc vận động cải cách dân chủ được thực hiện rộng rãi và đạt kết quả tốt, là cơ sở để phát động 5 phong trào thi đua ở vùng căn cứ[46]. Trước kia mỗi buôn làng đều có chủ rừng, chủ đất, đồng bào chỉ được phát rẫy trong một diện tích nhất định, hơn nữa do phương thức canh tác còn lạc hậu nên quanh năm bị đói. Sau khi thực hiện cải cách dân chủ, đồng bào được tự do phát rẫy và mở rộng diện tích canh tác. Ban kinh tài tỉnh cử cán bộ đến các buôn hướng dẫn kỹ thuật canh tác, phá thế độc canh với phương châm “lấy ngắn nuôi dài” và “sản xuất quanh năm, thu hoạch bốn mùa”.  Qua mấy vụ thu hoạch có kết quả tốt nên đã gây được tinh thần phấn khởi và lòng tin của đồng bào đối với cách mạng. Ở một số nơi trong vùng căn cứ, đồng bào có lương thực dự trữ và dùng để đổi những hàng tiêu dùng thiết yếu như vải, muối, giấy… nhờ đó đã giải quyết được khó khăn về đời sống.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, phong trào du kích chiến tranh trong vùng căn cứ được đẩy mạnh. Thông qua việc tuyên truyền giáo dục, đồng bào thấy được âm mưu thủ đoạn và tội ác của địch, lực lượng thanh niên hăng hái tham gia dân quân du kích để bảo vệ buôn làng, nương rẫy. Đến đầu năm 1966, ở 13 xã vùng căn cứ có 1.589 dân quân du kích (trong tổng số gần 5.000 dân, chiếm trên 30%).

Đồng bào các dân tộc  vùng căn cứ tích cực tham gia bố phòng chống địch. Từ các cụ già đến các em thiếu niên đều vót chông, bố phòng chung quanh buôn làng, nương rẫy và trên các tuyến vành đai bao vây địch. Trong đợt bố phòng Đông - Xuân 1964-1965 vùng căn cứ đã cắm trên 2,6 triệu cây chông, dựng trên 26.000 cọc phòng không, đào hàng trăm hầm chông và gài hàng ngàn mang cung, cạm bẫy, góp phần làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch.

Phong trào đi dân công phục vụ phía trước theo yêu cầu của tỉnh và khu được đồng bào hưởng ứng tích cực. Từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 3 năm 1966 đồng bào đã tham gia 28.000 ngày công, tiêu biểu là xã Đông (K4), xã 4 (căn cứ Bắc). Ngoài lực lượng dân quân du kích còn có cả phụ nữ, thiếu niên tham gia, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi, xóa bỏ được tập quán không chịu đi xa nhà[47] .

Phong trào tiết kiệm ủng hộ bộ đội, học tập văn hóa và vệ sinh phòng bệnh được tuyên truyền, phát động với nhiều hình thức phong phú. Mỗi gia đình đều có “hũ gạo nuôi quân” tiết kiệm lương thực để bán và ủng hộ cách mạng. Ở các cơ quan, đơn vị và các xã căn cứ tiếp tục mở các lớp văn hóa. Tuy còn gặp nhiều khó khăn trong việc dạy và học, nhưng bước đầu đạt kết quả tốt, nhiều người đã biết đọc, biết viết và làm những phép tính đơn giản. Thông qua phong trào học văn hóa, ta vận động đồng bào thực hiện vệ sinh phòng bệnh, khi ốm đau đến y tế lấy thuốc, bỏ dần những hủ tục mê tín dị đoan.

Những thắng lợi đạt được trong việc thực hiện cải cách dân chủ và 5 phong trào thi đua ở vùng căn cứ là một chủ trương đúng đắn, là kết quả của quá trình tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong các cơ quan, đơn vị. Những chủ trương đó vừa thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, vừa phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Vì vậy, từ năm 1966 trở đi, vùng căn cứ của tỉnh không những được xây dựng và bảo vệ vững chắc, đời sống của nhân dân từng bước được ổn định, mà còn là nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch.

Đến cuối năm 1966, thực lực cách mạng ở các vùng trong tỉnh đều tăng hơn trước. Toàn tỉnh có 22 chi bộ với 244 đảng viên (chưa kể số đảng viên trong lực lượng vũ trang). Tổ chức đoàn thanh niên được củng cố, các đoàn thể cách mạng như phụ nữ, nông hội, tổ đoàn kết sản xuất được thành lập và có hàng trăm hội viên tham gia. Trong vùng địch kiểm soát, cơ sở cách mạng phát triển thêm ở nhiều nơi, đó là lực lượng nòng cốt để lãnh đạo phong trào cách mạng tại chỗ.

Sau cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất bị thất bại, mùa khô 1966-1967, Mỹ-nguỵ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai với sự tham gia của hơn 40 vạn quân Mỹ và hơn nửa triệu quân ngụy. Thực hiện chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”, Mỹ -ngụy hy vọng giành thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh này, nhưng chúng đã bị thất bại nặng nề. Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã mở nhiều cuộc phản công, bẻ gãy hàng trăm cuộc hành quân càn quét của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên (có 68.000 tên Mỹ). Những mục tiêu chiến lược của Mỹ-ngụy trong cuộc phản công này bị phá sản.

Ở Lâm Đồng, địch tiến hành chiến lược hai gọng kìm bằng nhiều âm mưu  và thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt. Lực lượng quân ngụy phối hợp với lực lượng cơ động Mỹ mở nhiều cuộc hành quân càn quét, điển hình là chiến dịch “An dân”, các cuộc càn “Lôi vũ” 1, 2, 3 vào vùng Tân Gia Rang, Bờ Trú, Bi Nao, La Dày… nhằm tiêu diệt các cơ quan của ta, phá hoại kho tàng và chiếm lại những vùng đã mất.

Ở vùng căn cứ, địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hoá học, gây cho ta thiệt hại về người và tài sản. Ngoài ra còn dùng thủ đoạn phá hoại và bao vây kinh tế, chiến tranh tâm lý nhằm làm cho quần chúng hoang mang giao động, không tin vào thắng lợi của cách mạng. Trong vùng kiểm soát, địch tập trung bình định, gom dân vào các ấp chiến lược mà chúng gọi là “ấp tự giác” hay “ấp đời mới”, tăng cường đôn quân bắt lính và củng cố bộ máy kèm ở cơ sở.

Bước vào Đông -Xuân 1966-1967, Khu ủy và Quân khu ủy 6 chủ trương: phát triển rộng mạnh hơn nữa phong trào du kích chiến tranh. Đồng thời nâng mức đánh tập trung tiêu diệt của các đơn vị bộ đội khu, tỉnh để giữ vững và phát triển thế chủ động tiến công tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch càn quét và bình định của chúng. Trong đợt hoạt động này khu chọn tỉnh Lâm Đồng làm trọng điểm, tăng cường tiểu đoàn 145 cho tỉnh và bố trí tiểu đoàn 186 hoạt động từ B’Lao đến Di Linh.

Thực hiện chủ trương đó, Tỉnh ủy Lâm Đồng xác định quyết tâm: Tích cực chủ động kéo địch ra ngoài công sự mà đánh, buộc địch phải lo đối phó, từng bước tạo thế lấn vào vùng địch, phát động quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, đẩy mạnh công tác binh vận.

Mở màn đợt hoạt động, đêm 5 tháng 11 năm 1966, lực lượng vũ trang tỉnh tập kích ấp chiến lược Đạ Nghịch, một vị trí quan trọng của địch ở phía Tây thị xã B’Lao. Sau đó, trên các địa bàn trong tỉnh, lực lượng vũ trang liên tục tiến công tiêu diệt địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đối phó với các hoạt động của ta, lực lượng Mỹ-ngụy tiến hành hai cuộc càn quét lớn, với lực lượng từ hai đến ba tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh yểm trợ vào vùng Tân Gia Rang. Nhưng chúng đã bị lực lượng vũ trang của ta chặn đánh, loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên (có hàng chục tên Mỹ), bắn rơi và bị thương 9 máy bay. Thắng lợi đó càng cổ vũ tinh thần của cán bộ chiến sĩ và thấy được điểm yếu của địch để có những cách đánh thích hợp, đạt hiệu quả cao.

Trong năm 1967, lực lượng vũ trang trong tỉnh cùng phối hợp với các đơn vị chủ lực khu 6 đánh địch 311 trận, loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên (có hàng trăm tên Mỹ), phá huỷ 31 xe quân sự, bắn rơi và bị thương 35 máy bay, đánh phá 8 ấp chiến lược, phá lỏng và rã kèm ở 11 ấp khác, đột nhập 88 lần vào các ấp, đồn điền tuyên truyền cho trên 12.300 lượt người.

Ở vùng căn cứ, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh. Học tập, kinh nghiệm du kích huyện Bác Ái (Ninh Thuận), tháng 6 năm 1967 lần đầu tiên du kích buôn Đạ Nua dùng súng trường bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay L19 đến bắn phá rẫy lúa. Từ đó phong trào bắn máy bay được phát động rộng rãi trong vùng căn cứ. Tại một số vùng ở K 3, T 29, địch đã 5 lần rải chất độc hoá học, làm cho 27 người chết, 65 người bị nhiễm độc nặng và gây nhiều thiệt hại về hoa màu của nhân dân. Khắc phục hậu quả của chất độc hoá học, đồng bào có kinh nghiệm chặt cây mì (sắn) sát gốc để củ không bị nhiễm độc, làm nguồn lương thực dự trữ. Tỉnh ủy phát động phong trào đẩy mạnh tăng gia sản xuất trong các cơ quan, đơn vị và nhân dân vùng căn cứ, đồng thời tổ chức thu thuế lưu thông trên đường 20, ở các cơ sở, đồn điền, mở các cửa khẩu bán lâm sản để tăng thêm nguồn thu tài chính của tỉnh. Đến cuối năm 1967 vùng căn cứ cơ bản giải quyết được nạn “đói, đau, rách, lạt”[48] kéo dài từ nhiều năm trước.

Phối hợp với hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển. Các cuộc đấu tranh đã tập hợp được nhiều tầng lớp tham gia, trong đó có đồng bào theo  đạo thiên chúa ở Tân Thanh, Tân Phát, Tân Hà. Chỉ tính trong 8 tháng đầu năm 1967, toàn tỉnh có trên 100 cuộc đấu tranh với gần 8.000 lượt người tham gia. Hầu hết  các cuộc đấu tranh đều do cơ sở cách mạng bên trong tổ chức và lãnh đạo nhằm đòi quyền dân sinh dân chủ, chống bắn pháo vào rẫy, đòi bồi thường thiệt hại và được tự do  đi lại làm ăn ở các ấp Bờ Xu Băng Ly, 16, 17 Đạ Bình… phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh, làm cho địch hết sức bị động, lúng túng và chịu bồi thường thiệt hại về người và của do chúng gây ra. Về công tác binh vận, cơ sở bên trong đã tuyên truyền, giáo dục trên 10.000 lượt người, 477 gia đình binh lính địch… kết quả có 471 binh lính địch đào rã ngũ, bộ máy kèm ở cơ sở hoạt động kém hiệu lực, tinh thần sa sút, nhiều tên bỏ việc.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Cục và Khu ủy 6 về công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy có kế hoạch kiểm tra đôn đốc việc thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ 5 tốt trong cơ quan, 3 tốt trong lực lượng vũ trang, 4 tốt ở địa phương. Các Nghị quyết của Đảng đều được các chi bộ triển khai học tập. Qua thực tế công tác và chiến đấu, cán bộ, đảng viên đã phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, lãnh đạo quần chúng thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng. Đến cuối năm 1967, toàn tỉnh có 1.065 đảng viên, trong năm phát triển 107 đảng viên mới. Đoàn thanh niên có 21 chi đoàn với 196 đoàn viên. Hội phụ nữ có 66 tổ với 223 hội viên. Hội nông dân có 116 tổ làm ăn với 2.065 hội viên. Trong vùng địch kiểm soát có 187 cơ sở cách mạng.

Hơn hai năm đương đầu với chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, phong trào cách mạng ở địa phương tiếp tục được giữ vững và phát triển; phong trào ở phía trước và phía sau luôn tác động, hỗ trợ nhau. Mặc dù địch tập trung mọi khả năng để thực hiện kế hoạch bình định, nhưng chúng vẫn không đạt được những mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, phong trào phía trước phát triển còn chậm, chưa kịp với yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng, thực lực cách mạng tại chỗ còn ít chưa đủ sức lãnh đạo phong trào phát triển toàn diện.

2. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968

Sau hai cuộc phản công chiến lược bị thất bại nặng nề, Mỹ-ngụy càng lao sâu vào con đường bị động, bế tắc, chiến lược “chiến tranh cục bộ” đứng trước nguy cơ bị phá sản. Trong khi đó, cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam đang giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện.

Hội nghị lần thứ 14 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) tháng 1 năm 1968 nhận định: “Những cố gắng của Mỹ ở Việt Nam đã tới đỉnh cao. Xu thế của tình hình địch năm 1968 là chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước. Về phía ta, chúng ta đã thắng địch về cả chiến lược, chiến thuật. Diễn biến cơ bản của tình hình là ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Tình hình cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao hơn[49]. Hội nghị chủ trương mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn miền Nam, nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Sau khi nhận được chỉ thị và mệnh lệnh của Trung ương Cục miền Nam, tháng 1 năm 1968, đồng chí Trần Lê, Bí thư Khu uỷ 6 triệu tập các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lâm Đồng và Tỉnh ủy Tuyên Đức họp hội nghị ở Lán Tranh (nay thuộc huyện Lâm Hà) để phổ biến Nghị quyết khu ủy và giao nhiệm vụ cho từng tỉnh trong đợt tổng tiến công và nổi dậy. Các đồng chí cán bộ khu ủy và Quân khu ủy trực tiếp xuống chỉ đạo các địa bàn, nhất là hai trọng điểm Đà Lạt và Phan Thiết (Bình Thuận). Khu ủy điều hai tiểu đoàn 186 và 145 đang hoạt động tại Lâm Đồng lên tăng cường cho chiến trường Đà Lạt-Tuyên Đức.

Nhận được chỉ thị của Khu ủy, Tỉnh ủy Lâm Đồng khẩn trương triển khai kế hoạch, chuẩn bị lực lượng để thực hiện nhiệm vụ được giao. Do lực lượng vũ trang của tỉnh phần lớn chi viện cho chiến trường Đà Lạt-Tuyên Đức nên Tỉnh ủy chủ trương rút một số thanh niên ở các cơ quan và du kích căn cứ thành lập hai đại đội bộ đội địa phương (trong đó có đại đội 745 toàn thanh niên dân tộc). Huy động dân công vùng căn cứ làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực vũ khí, theo yêu cầu của tỉnh và khu, phục vụ kịp thời các đơn vị phía trước đánh địch. Tỉnh ủy thành lập Ban chỉ đạo tiền phương, chọn Di Linh làm trọng điểm, quyết tâm làm chủ đường 20 đoạn đường từ đèo B’Lao đến đèo Chuối để cô lập thị xã B’Lao, đồng thời chỉ thị cho cơ sở bên trong nắm tình hình để khi có thời cơ kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968 (tức đêm giao thừa Tết Mậu Thân) lực lượng vũ trang của tỉnh gồm các đại đội 210, 212, 215, 744, 745, đơn vị đặc công 715 và lực lượng vũ trang các huyện đồng loạt tiến công vào thị trấn Di Linh, thị xã B’Lao và một số ấp chiến lược dọc đường 20. Do lực lượng ta ít, thời gian chuẩn bị quá gấp nên khi địch phản kích quyết liệt các đơn vị phải rút ra trụ lại vùng nông thôn.

Ngày 18 tháng 3 năm 1968, các đại đội 210, 212 của tỉnh và đại đội 742 (K3) phục kích đánh , đại đội 407 thám kích có cố vấn Mỹ chỉ huy nống ra đồi Nguyên Ngọc, diệt gần 100 tên, bắt sống hai tên cố vấn Mỹ. Cùng thời gian trên, đội biệt động thị xã B’Lao và đơn vị 715 đặc công tiêu diệt trung đội dân vệ ở ấp An Lạc, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá kèm giành quyền làm chủ.

Qua đợt tiến công, tuy lực lượng ít và chưa thực hiện được nhiệm vụ của Tỉnh ủy đề ra, nhưng quân và dân Lâm Đồng đã đánh địch trên nhiều địa bàn, buộc chúng phải căng kéo lực lượng để đối phó, góp phần chia lửa cùng chiến trường Đà Lạt-Tuyên Đức.

Thắng lợi của quân và dân ta trên toàn miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968 đã làm đảo lộn chiến lược chiến tranh của Mỹ-Ngụy. Để chiếm lại những vùng đã mất, chúng tập trung lực lượng thực hiện chiến lược “quét và giữ”, nhưng thực chất là một chiến lược phòng ngự bị động.

Ở Lâm Đồng, địch đẩy mạnh bình định nông thôn để giành dân, chiếm đất. Hệ thống kèm kẹp và bộ máy ngụy quyền ở cơ sở được tăng cường và củng cố hơn trước. Trong các ấp chiến lược, ngoài lực lượng kèm kẹp công khai còn có tổ chức hoạt động chìm để nắm dân và theo dõi các hoạt động của ta. Để kiểm soát dân, chúng tiến hành phân loại từng đối tượng, kiểm soát chặt chẽ những gia đình có người thân tham gia cách mạng, tạo ra sự ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân. Từ đó hòng cắt đứt sự liên lạc giữa lực lượng bên ngoài với cơ sở cách mạng và nhân dân trong vùng chúng kiểm soát.

Những âm mưu và thủ đoạn mới của địch bước đầu gây cho ta nhiều khó khăn, ở một số địa bàn ta và địch giành giựt nhau quyết liệt. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy chủ trương chuyển hướng hoạt động, các đội công tác được củng cố và tăng cường thêm lực lượng để bám dân với phương châm “bám dân đến đâu thì trụ lại đến đó, kiên quyết không cho địch tái chiếm”. Rút kinh nghiệm qua hai đợt tiến công đầu Xuân 1968 vào đợt hoạt động Hè-Thu, lực lượng vũ trang trong tỉnh nhanh chóng củng cố tổ chức, xác định quyết tâm để thực hiện nhiệm vụ tấn công tiêu diệt địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ.

Mở đầu hoạt động, ngày 9 tháng 5 năm 1968 tiểu đoàn 145 đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn cộng hoà thuộc trung đoàn 44 ngụy tại phía Nam thị xã B’Lao, diệt trên 100 tên. Ngày 19 tháng 5 đơn vị đặc công 745 và đại đội 744 đánh một bộ phận lữ đoàn dù 101 của Mỹ đổ quân càn quét vùng Bàu Le, diệt gần 100 tên. Ngày 20 tháng 8, các tiểu đoàn 186, 145 đại đội trợ chiến 130 của quân khu và bộ đội địa phương K3 tập kích chi khu Di Linh, phá bộ máy kèm của địch ở các ấp lân cận, cắt đứt và làm chủ đoạn đường 20 tại khu vực thị trấn Di Linh hơn một ngày. Trận đánh này đã diệt một đại đội bảo an địch nhưng ta bị thương vong nặng, trong các đơn vị xuất hiện tư tưởng bi quan, giao động. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, ở vùng nông thôn, đồng bào các ấp chiến lược 16, 17 và một số ấp dọc đường 20 nổi dậy diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ. Tháng 11 năm 1968, đơn vị đặc công và đội công tác thị xã B’Lao tập kích một bộ phận lính dù thuộc lữ  đoàn 173 đóng dã ngoại ở sân bay B’Lao diệt gần 200 tên.

Trong năm 1968, quân và dân trong tỉnh với khí thế liên tục tấn công đã đánh địch hàng trăm trận, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên, làm thất bại những mục tiêu cơ bản trong kế hoạch bình định và chiến lược “quét và giữ” của Mỹ-nguỵ. Trong vùng chúng kiểm soát không còn nơi nào là an toàn và bất khả xâm phạm.

Ở vùng căn cứ, tiếp tục đẩy mạnh 5 phong trào thi đua, đời sống nhân dân từng bước được ổn định. Đồng bào các dân tộc đã tham gia 125 tổ đoàn kết sản xuất với trên 2.100 hội viên, do đó tình hình sản xuất phát triển khá hơn trước. Phong trào du kích chiến tranh trở thành lá cờ đầu của 5 phong trào với thành tích bố phòng, đánh địch càn quét và bắn máy bay. Trong năm 1968, toàn tỉnh có 322 thanh niên thoát ly (vùng căn cứ có trên 200 người) bổ sung vào các đơn vị bộ đội, thành lập thêm đơn vị vận tải và trung đội nữ pháo binh 8/3.

Đơn vị nữ pháo binh 8/3 thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1968 gồm 42 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có 20 chị là dân tộc ít người) với một chi bộ 6 đảng viên, một chi đoàn 5 đoàn viên. Trong điều kiện học tập, sinh hoạt và huấn luyện gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng chị em đã không ngừng phấn đấu vươn lên về mọi mặt, sử dụng thành thạo súng cối 82 ly và các loại súng bộ binh. Đơn vị thường xuyên cơ động đánh địch ở nhiều địa bàn trong tỉnh, lúc thì bắn cối, đánh mìn, đánh bằng bộ binh, lúc thì hiệp đồng chiến đấu với các đơn vị, đột ấp, chống càn; vận tải, tăng gia sản xuất. Đơn vị luôn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ và xây dựng được tinh thần đoàn kết nhất trí cao.

Cùng với việc chỉ đạo phong trào ở phía trước, phía sau, Tỉnh ủy thường xuyên chú trọng công tác xây dựng Đảng. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng lúc này là củng cố, xây dựng chi bộ vững mạnh và phát triển đảng viên. Tháng 4 năm 1968, Tỉnh ủy họp hội nghị kiểm điểm việc thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị, địa phương và đề ra kế hoạch thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục về việc phát triển đảng viên, đoàn viên lớp Hồ Chí Minh kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1968. Qua một năm thực hiện, toàn tỉnh kết nạp được 214 đảng viên (có 113 đồng chí là dân tộc ít người, 35 đồng chí nữ) và 119 đoàn viên lớp Hồ Chí Minh, thành lập thêm 6 chi bộ (có 4 chi  bộ vùng mới giải phóng và vùng tranh chấp).

Tháng 6 năm 1968, Tỉnh ủy họp hội nghị về công tác tổ chức để kiểm điểm, đánh giá tình hình xây dựng thực lực cách mạng ở các địa bàn trong tỉnh. Hội nghị nhận định: do làm tốt công tác  tuyên truyền, giáo dục và xây dựng nên các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ, nông hội và các loại cơ sở khác có tăng hơn năm 1967, trình độ nhận thức và khả năng công tác của các cơ sở bên trong được nâng lên, giữ vai trò nòng cốt tại các địa phương. Nhưng ở thị xã, thị trấn, đồn điền, cơ sở cách mạng còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của phong trào.

Thực hiện phương châm “kiện toàn tỉnh, tăng cường huyện, tập trung xây dựng bộ máy xã, thôn”, Tỉnh ủy đã từng bước kiện toàn các cơ quan, đơn vị của tỉnh, huyện, đồng thời chỉ đạo các xã, vùng căn cứ tiến hành bầu cử dân chủ để bầu Hội đồng nhân dân giải phóng xã và thành lập chính quyền cơ sở (thay cho Uỷ ban tự trị trước đây). Đến cuối năm 1968, vùng căn cứ đã thành lập chính quyền ở căn cứ Bắc và căn cứ Nam (tương đương cấp huyện), 17 Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, 11 Ban chấp hành nông hội, 11 Ban chấp hành thanh niên và 10 Ban chấp hành phụ nữ xã. Hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở từng bước đi vào nền nếp và sát phong trào hơn trước.

Quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ đã có tác động lớn đối với phong trào cách mạng ở phía trước. Vùng căn cứ đã thật sự trở thành hậu phương trực tiếp, là nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch. Đó là điều kiện thuận lợi để Đảng bộ Lâm Đồng tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương phát triển mạnh mẽ, vững chắc.

II. Đảng bộ Tuyên Đức nêu cao quyết tâm bám trụ, phá ấp, phá kèm, giành  quyền làm chủ ở nông thôn và đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở Đà Lạt

1.Kết hợp hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị, tích cực xây dựng cơ sở và mở rộng phong trào

Từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, nhưng ở Tuyên Đức lực lượng quân ngụy vẫn đóng vai trò chủ yếu, các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế được đẩy mạnh hơn trước. Tại Đà Lạt và dọc các đường giao thông quan trọng như đường 11, 21, 20, 21 kéo dài địch xây dựng nhiều đồn bốt, cứ điểm nhằm bảo vệ các ấp chiến lược và ngăn chặn lực lượng ta đột nhập vào thị xã, thị trấn. Những nơi ta hoạt động mạnh, chúng đưa lực lượng bảo an, các đoàn “trường sơn”, “bình định nông thôn” xuống các ấp để hỗ trợ cho bộ máy kèm tại chỗ và bắt nhân dân củng cố ấp chiến lược. Lực lượng bảo an, biệt kích, dân vệ phối hợp tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét, lùng sục nhằm đánh phá các hướng bàn đạp, phát hiện kho tàng và hậu cứ của ta. Bên trong thị xã Đà Lạt, lực lượng cảnh sát tăng cường bắt lính, truy bắt và đánh phá cơ sở cách mạng.

Để xây dựng Đà Lạt thành một vị trí chiến lược quan trọng ở Nam  Tây Nguyên, Mỹ-ngụy đưa lực lượng cố vấn, chuyên viên kỹ thuật và các đơn vị công binh (Mỹ và chư hầu) đến xây dựng đài truyền tin Núi Bà, đài Ra-đa Cầu Đất, mở rộng sân bay Cam Ly, sân bay Liên Khương. Ở vùng ven, các đơn vị công binh Mỹ-nguỵ mở rộng hoặc làm mới từ Xuân Thành đi Phụng Sơn, từ Nam Thiên đến sở Pha-Rô…

Về chính trị, địch tăng cường hoạt động gián điệp và phát triển mạng lưới mật vụ. Chúng thành lập tổ chức “lực lượng cách mạng Việt Nam” để lôi kéo thanh niên vào tổ chức mật vụ. Bọn mật vụ tỉnh, huyện được tổ chức thành các đoàn với danh nghĩa “Đoàn khảo sát mùa màng”, “Đoàn thanh niên làm công tác xã hội” hoặc “Cán bộ y tế nông thôn” đưa xuống vùng nông thôn nhằm bí mật điều tra, nắm tình hình hoạt động của ta. Tại Đà Lạt, địch mở trường đào tạo mật vụ cho các tỉnh Tây Nguyên lấy tên “Cán bộ nhân dân tình nguyện”, mở lớp huấn luyện cho 1.500 trưởng phòng, trưởng ấp tại Lữ quán thanh niên. Ngoài ra địch còn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi nhằm lừa bịp, mua chuộc nhân dân và tuyên truyền sức mạnh của Mỹ.

Về kinh tế, ngoài việc tăng thuế, giảm bán gạo, địch còn kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển gạo, muối, thực phẩm nhằm ngăn chặn nhân dân tiếp tế cho cách mạng. Đồng bào các dân tộc ít người ở Lạc Dương, Đức Trọng bị dồn vào các ấp chiến lược, không được tự do phát  rẫy nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó giá lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng tăng vọt làm cho mức sống của nhân dân ngày càng giảm sút.

Cuối năm 1965, lực lượng địch ở Tuyên Đức có trên 300 tên Mỹ và chư hầu, hai tiểu đoàn cộng hoà, 16 đại đội bảo an, 47 trung đội dân vệ, 86 tiểu đội thanh niên chiến đấu, 36 toán “trường sơn”, gần 400 tên “bình định nông thôn”, trên 3.300 tên phòng vệ dân sự. Ngoài ra còn có hàng ngàn tên đang được đào tạo tại các trường Võ bị Đà Lạt, Chiến tranh chính trị, Cảnh sát dã chiến… nhưng nhìn chung địch vẫn ở trong tình trạng sa sút tinh thần, hoạt động kém hiệu lực, bộ máy kèm ở cơ sở làm việc cầm chừng, chiếu lệ, một số xin thôi việc.

Mặc dù địch tiến hành nhiều âm mưu và thủ đoạn đánh phá nhưng phong trào cách mạng địa phương vẫn được giữ vững. Trong năm 1965, lực lượng vũ trang của tỉnh đánh địch 16  trận, diệt 162 tên (có hàng chục tên Mỹ), 71 lần đột nhập vào 16 ấp diệt 6 tên ác ôn, bắt 49 tên đưa đi cải tạo, vũ trang tuyên truyền tại 15 ấp, phân phát trên 10.000 truyền đơn, làm lỏng rã thế kèm của địch ở 13 ấp dọc đường giao thông với trên 7.000 dân, rút được 78 thanh niên thoát ly bổ sung vào lực lượng vũ trang và các đội công tác. Tiêu biểu cho hoạt động vũ trang trong năm 1965 là trận đại đội 810 đánh khu tập trung Dú Tờ Nang và Tiêng Liêng (tháng 9 năm 1965). Đêm 31 tháng 12 năm 1965, đội biệt động 850 thị xã Đà Lạt đánh mìn khách sạn Lê- Rờ-Vin (Les Revins), phá huỷ một xe quân sự. Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh.

Thắng lợi về hoạt động quân sự đã có tác động thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân thị xã Đà Lạt. Trong cuộc bầu cử Hội đồng thành phố của địch, hơn một nửa cử tri không đi bỏ phiếu. Chi bộ chợ Đà Lạt lãnh đạo 7.000 chị em bãi thị, đấu tranh đòi ngụy quyền không được khủng bố phật giáo. Tháng 11 và 12 năm 1965, phụ nữ chợ Đà Lạt nhiều lần đấu tranh phản đối Mỹ định lấy lầu 3 ở chợ làm nơi khiêu vũ, buộc chúng phải hủy bỏ ý định. Ở vùng nông thôn, đồng bào các ấp Quảng Hiệp, Phú Thạnh, Định An liên tục đấu tranh chống xây bốt, đòi tự do đi lại làm ăn.

Vùng căn cứ huyện Lạc Dương tuy chỉ có 3 buôn với trên 340 dân, nhưng mỗi buôn đều có chi bộ, chi đoàn, Ban tự trị, Hội phụ nữ. Trước đây đồng bào sống theo lối du canh, du cư với nhiều tập quán lạc hậu, nhưng sau khi được tuyên truyền giáo dục đã cùng nhau đoàn kết đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tham gia xây dựng các tuyến bố phòng chống địch, cắm trên 100.000 cây chông, đào 250 hầm chông, bố trí hàng trăm vũ khí thô sơ khác như mang cung, cạm bẫy, góp phần bảo vệ vững chắc vùng căn cứ.

Để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, tháng 10 năm 1965 Khu ủy 6 quyết định thành lập lại Tỉnh ủy Tuyên Đức, đồng thời giao huyện Đức Trọng lại cho tỉnh. Đây là sự kiện quan trọng trong công tác tổ chức và lãnh đạo để đưa phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức tiếp tục phát triển.

Cuối năm 1965, cơ quan Tỉnh ủy từ căn cứ huyện Lạc Dương chuyển sang đóng ở khu vực phía Nam Lán Tranh (Tây Nam huyện Đức Trọng) để các cơ quan, đơn vị có điều kiện tăng gia sản xuất và thuận tiện liên lạc với Khu ủy và vùng căn cứ tỉnh Lâm Đồng. Sau khi ổn định thế ăn ở, tháng 12 năm 1965 Tỉnh ủy họp để quán triệt các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục và Khu ủy 6 về tình hình Mỹ đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” đánh giá tình hình địa phương trong năm 1965 và đề ra chủ trương hoạt động năm 1966. Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu trong năm 1965 là: đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang, phối hợp cùng các đội công tác đánh phá ấp chiến lược trên đường 11, 20, 21 kéo dài theo phương châm “hai chân ba mũi”, đưa lên diện làm chủ và giải phóng khoảng 15.000 dân để tạo thế xây dựng căn cứ Đức Trọng và hành lang nối liền với bàn đạp phía Nam và Tây Nam thị xã Đà Lạt. Đối với Đà Lạt, đẩy mạnh hoạt động quân sự sát ngoại ô để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị trong nội thị, buộc địch phải lo giữ Đà Lạt, tạo điều kiện cho ta phá ấp, giành dân vùng nông thôn. Ở hậu cứ, các cơ quan đẩy mạnh tăng gia sản xuất, vận chuyển số lương thực của tỉnh Lâm Đồng chi viện để bảo đảm đủ lương thực cho các cơ quan và chuẩn bị đón lực lượng của trên bổ sung cho tỉnh.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên, Tỉnh ủy và Ban cán sự tỉnh đội bố trí lực lượng biệt động hoạt động  vùng ven và trong thị xã Đà Lạt. Trung đội công binh tỉnh và đơn vị 870 bộ đội huyện Lạc Dương mở phong trào vùng nông thôn, kết hợp đánh giao thông trên đường 11, phá đường xe lửa. Lực lượng còn lại của tỉnh hoạt động trên địa bàn huyện Đức Trọng.

Trước khi bước vào đợt hoạt động, lực lượng vũ trang trong tỉnh tiến hành đợt sinh hoạt chính trị để quán triệt các Nghị quyết của Đảng, học tập tài liệu 3 dân chủ lớn (quân sự, chính trị, kinh tế) nhằm tạo sự chuyển biến về tư tưởng và nhận thức trong mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ.

Trong năm 1966, hoạt động quân sự được đẩy mạnh. Ở vùng nông thôn và vùng ven Đà Lạt, các đơn vị vũ trang, đội công tác liên tục bám dân, bám ấp diệt ác phá bộ máy kèm tại chỗ, xây dựng cơ sở, làm công tác binh vận và đánh địch trên đường giao thông. Tại thị xã Đà Lạt, lực lượng biệt động, du kích mật tiêu diệt nhiều tên ác ôn, tập kích một số vị trí quan trọng của địch. Tiêu biểu nhất là trận tập kích sân bay Cam Ly đêm 9 tháng 3 năm 1966 của đại đội 810 và đội biệt động 850, diệt 30 tên địch, phá hủy 3 máy bay, đốt cháy 1 triệu lít xăng. Đây là trận đánh sân bay đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh, có tác động hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Đà Lạt. Ngày 10 tháng 9 năm 1966 tại dốc Đu trên đường 11, đại đội 810 và trung đội 870 phục kích đoàn xe chở cố vấn Mỹ từ đài ra-đa Cầu Đất về Đà Lạt, diệt 6 tên Mỹ, 20 tên ngụy, phá hủy 3 xe quân sự. Thắng lợi đó càng cổ vũ phong trào thi đua “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” của lực lượng vũ trang tỉnh Tuyên Đức. Qua một năm hoạt động, quân và dân trong tỉnh đã đánh địch 42 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 700 tên, phá hủy 30 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh.

Những tháng đầu năm 1966, cùng với thắng lợi của quân và dân ta vừa đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ-nguỵ, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân các thành phố, thị xã ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, nội bộ ngụy quyền Sài Gòn lục  đục, thanh trừng lẫn nhau. Từ đầu tháng 3 năm 1966, nhân dân Huế, Đà Nẵng đấu tranh chống chính quyền Thiệu -Kỳ, chiếm đài phát thanh và nhiều công sở, làm tê liệt các hoạt động trong thành phố.

Phát huy truyền thống cách mạng của nhân dân Đà Lạt và hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân Huế, Đà Nẵng và các đô thị ở miền Nam, một số cơ sở cốt cán trong lực lượng học sinh, sinh viên Đà Lạt[50] khẩn trương  chuẩn bị phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh. Tối 21 tháng 3 năm 1966, tại số nhà 156 đường Phan Đình Phùng, đại diện lực lượng sinh viên, học sinh họp để thành lập tổ chức “Lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ”, bầu ban lãnh đạo thông qua chương trình kế hoạch và quyết định phát động cuộc đấu tranh.

Trước tình hình đó, cơ sở Đảng ở chợ Đà Lạt chỉ đạo đảng viên, cốt cán tích cực vận động quần chúng hưởng ứng cuộc đấu tranh. Tối 27 tháng 3, Ban chấp hành “Lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ” cùng với đại diện tiểu thương, công nhân, công chức họp tại chùa Linh Sơn bàn  chương trình hành động, thành lập “Lực lượng nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ” và bầu Ban chấp hành mới để lãnh đạo phong trào.

Sáng ngày 28 tháng 3, khi lễ chào cở ở trường Trần Hưng Đạo vừa kết thúc, cơ sở cốt cán trong học sinh lên phát động cuộc đấu tranh, cùng lúc đó trên sân trường xuất hiện hàng ngàn truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi học sinh tham gia bãi khoá, xuống đường biểu tình. Khi đoàn biểu tình đi qua trường Đại học, trường Bùi Thị Xuân, trường Bồ Đề (nay là trường phổ thông cơ sở Nguyễn Du) có thêm hàng trăm sinh viên, học sinh tham gia và kéo ra khu Hoà Bình tổ chức mít tinh, Ban lãnh đạo cuộc đấu tranh công bố mục tiêu đấu tranh và kêu gọi các tầng lớp nhân dân tham gia. Hàng trăm biểu ngữ, khẩu hiệu được căng lên ở khu Hoà Bình, chợ Đà Lạt với nội dung:

- Mỹ phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam.

- Chúng tôi đòi giảm giá sinh hoạt.

- Bãi khoá để đòi quyền tự quyết.

- Sinh viên, học sinh đấu tranh cho tự do, dân chủ.

Từ ngày 29 đến ngày 31 tháng 3, nhân dân Đà Lạt đình công, bãi thị, lực lượng sinh viên, học sinh tổ chức phát thanh tại khu Hoà Bình để kêu gọi đồng bào tham gia đấu tranh, thông báo diễn biến và kết quả đấu tranh của nhân dân Huế, Đà Nẵng.

Sáng ngày 1 tháng 4, khoảng 3.000 người tập trung tại khu Hoà Bình tổ chức mít tinh, sau đó kéo đến trung tâm văn hóa Mỹ ở đường Yersin (nay là đường Trần Phú) đưa bản thông báo của lực lượng đấu tranh đòi Mỹ phải rút khỏi khách sạn Mô-Đéc (Modern Hotel) và thị xã Đà Lạt. Đoàn biểu tình tiếp tục kéo đến toà thị chính yêu cầu Thị trưởng Đà Lạt giải quyết 3 yêu sách:

- Mượn Đài phát thanh mỗi ngày một giờ và xe thông tin để có phương tiện hoạt động.

- Mượn một nơi trong thị xã có đủ tiện nghi lập trụ sở và không chịu sự kiểm soát của chính quyền.

- Chính quyền địa phương phải bảo đảm an toàn cho lực lượng đấu tranh.

Thị trưởng Đà Lạt[51] không chấp nhận các yêu sách lại còn tỏ thái độ hống hách trước nhân dân nên đoàn biểu tình kéo sang chiếm đài phát thanh đặt trên lầu 3 khách sạn Đà Lạt. Trước khi rút lui, chuyên viên kỹ thuật của đài đã tắt tất cả các máy phát thanh, rút dây liên hợp giữa các máy, đánh tráo các nút mở máy để đài không hoạt động được. Nhưng khi chiếm được đài, lực lượng  đấu tranh khẩn trương sửa chữa và đến 1 giờ 30 phút ngày 2 tháng 4 tiếng nói của lực lượng  đấu tranh được phát đi trên làn sóng của đài.

Sau khi chiếm được đài phát thanh, lực lượng đấu tranh thường xuyên thông báo diễn biến cuộc đấu tranh, đại diện các tầng lớp nhân dân Đà Lạt được phát biểu ý kiến của giới mình. Phụ nữ chợ và công nhân lái xe lam, xe taxi ngày đêm lo tiếp tế lương thực, thực phẩm, bí mật chuyển gậy gộc, gạch đá và xăng cho lực lượng đấu tranh để sẵn sàng đối phó khi địch đàn áp.

Sáng ngày 3 tháng 4, tỉnh trưởng Tuyên Đức[52] cùng một số ủy viên Hội đồng thị xã đến đài phát thanh thương lượng đấu tranh để lấy lại đài nhưng không có kết quả. Tối hôm đó, chúng bí mật huy động 2 đại đội cảnh sát dã chiến, 2 đại đội và 1 trung đội địa phương quân, tổ chức cuộc hành quân “Lâm Viên” để chiếm lại đài. Lúc 4 giờ sáng ngày 4 tháng 4, các đơn vị trên đã chốt chặn các ngả đường đến đài phát thanh. Sau 2 giờ kêu gọi nhân dân giải tán khỏi khu vực đài nhưng không xoay chuyển được tình hình, chúng huy động xe cứu hỏa phun nước và ném lựu đạn cay vào những người đang bao vây quanh đài. Từ bên trong, lực lượng đấu tranh cũng ném gậy gộc, gạch đá, chai xăng vào bọn lính đến đàn áp. Biết không thể chiếm được đài, lực lượng  đấu tranh quyết định phá hủy máy móc, phương tiện rồi dùng xăng đốt đài và rút lui an toàn.

Ngày 5 tháng 4, hàng ngàn người tập trung tại khu Hoà Bình rồi kéo đến chiếm trụ sở Hợp tác xã rau ở ngã ba đường Phan Đình Phùng -Hàm Nghi (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi) làm trụ sở của Ban chấp hành lực lượng đấu tranh. Tại đây, Ban chấp hành tổ chức cuộc họp có đủ đại diện của các lực lượng, các tầng lớp nhân dân để thông báo chương trình đấu tranh và chuẩn bị đối phó với sự đàn áp của địch.

Để đối phó với phong trào đấu tranh của quần chúng, địch điều đến Đà Lạt một đại đội biệt động quân, kết hợp với lực lượng cảnh sát dã chiến chiếm giữ khu Hoà Bình và khu vực chợ.

Từ ngày 9 đến ngày 17 tháng 4, bất chấp sự đàn áp và ngăn chặn của địch, nhân dân Đà Lạt vẫn tiếp tục đấu tranh. Những cuộc mít tinh biểu tình đều mang nội dung đòi Mỹ cút về nước, đòi chấm dứt chiến tranh, bảo đảm quyền tự do, dân chủ.

Ngày 18 tháng 4, lực lượng  học sinh, sinh viên quyết định tuyệt thực 24 giờ tại khu Hoà Bình để phản đối địch đàn áp cuộc đấu tranh của đồng bào Quy Nhơn. Đêm hôm đó, lúc 23 giờ địch huy động một đoàn xe quân sự 6 chiếc chở đơn vị cảnh sát dã chiến thuộc biệt đoàn 222 và đơn vị quân cảnh đến giải tán lực lượng  đấu tranh. Đoàn xe vừa đến nơi đã bị lực lượng  học sinh, sinh viên bao vây, ném gạch đá vào xe, đốt cháy một chiếc xe Jeep và bắt tên đại úy chỉ huy đưa về giam tại Hợp tác xã rau. Bị tấn công bất ngờ, địch không dám nổ súng và rút về tiểu khu. Sáng hôm sau, lực lượng đấu tranh đòi chính quyền địch trả tự do cho 4 người bị bắt trong các cuộc biểu tình, sau đó sẽ thả tên đại úy. Biết không thể thương lượng được chính quyền địch phải chấp nhận yêu cầu đó.

Sáng ngày 21 tháng 4, đại diện Ban chấp hành “Lực lượng nhân dân, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ”, đến tiểu khu gặp tỉnh trưởng Tuyên Đức đưa kiến nghị nhưng bị chúng hành hung. Được tin đó, trên 1.000 người kéo đến tiểu khu phản đối hành động dã man của chúng. Khi đến rạp Ngọc Hiệp (nay là rạp Giải Phóng) ở đường Phan Đình Phùng địch huy động cảnh sát, quân cảnh đến đàn áp. Lực lượng đấu tranh dùng gậy gộc, gạch đá tấn công địch. Trong thế giằng co quyết liệt, địch bắn uy hiếp đoàn biểu tình, anh Nguyễn Văn Đức người cầm cờ đi đầu đã anh dũng hy sinh. Như lửa đổ thêm dầu, đoàn biểu tình kéo đến toà hành chính Tỉnh đòi trừng trị những tên vừa gây tội ác. Tại đây, địch vừa tìm cách trì hoãn gặp đại diện lực lượng đấu tranh vừa bí mật điều 2 đại đội cảnh sát dã chiến, đại đội 301 địa phương quân đến đàn áp. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, những người biểu tình dùng dao, gạch đá, gậy gộc tấn công, trong khi đó địch lại dùng vũ khí giết hại 4 thanh niên học sinh, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Triệt, đoàn viên Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng, làm bị thương 37 người và hàng chục người khác bị bắt. Cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức nhưng đã ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Đà Lạt.

Đêm 21 rạng ngày 22 tháng 4, địch huy động hai đại đội cảnh sát dã chiến và một đại đội địa phương quân đến bao vây và chiếm lại hợp tác xã rau. Ban chấp hành lực lượng đấu tranh quyết định rút về chùa Linh Sơn tiếp tục lãnh đạo phong trào.

Từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 4, địch ban hành lệnh giới nghiêm 24/24 giờ để ngăn chặn các cuộc mít tinh biểu tình, đồng thời lùng bắt một số người tham gia đấu tranh. Tại chùa Linh Sơn, lực lượng đấu tranh vẫn duy trì các chương trình phát thanh, kêu gọi đồng bào tiếp tục hưởng ứng phong trào.

Chiều 25 tháng 4, Ban chấp hành “Lực lượng nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ” và Tỉnh hội Phật giáo Đà Lạt-Tuyên Đức đưa kiến nghị đòi chính quyền địch ở địa phương thực hiện các yêu cầu.

- Trả lại tử thi những người tử nạn, đền bù xứng đáng và an ủi các tang gia.

- Đền bù xứng đáng những người bị thương tích.

- Trừng phạt những tên gây tội ác trong các cuộc biểu tình.

- Chấm dứt việc bắt bớ, khủng bố đồng bào để ổn định tình hình.

- Trả tự do cho những người bị bắt.

Sáng ngày 26 tháng 4, nhân dân Đà Lạt tổng đình công, bãi thị, bãi khoá và trên 10.000 người đến chùa Linh Sơn dự lễ truy điệu và an táng 5 thanh niên bị địch giết hại trong cuộc biểu tình ngày 21 tháng 4. Đám tang biến thành một cuộc biểu tình lớn kéo đến khu Hoà Bình và đi qua các đường phố lớn trong thị xã. Đoàn biểu tình giương cao khẩu hiệu: “Sống anh dũng, chết vẻ vang”, “các bạn là những ngọn đuốc đã bùng lên để thắp sáng quê hương” nhằm ca ngợi tinh thần yêu nước, dám hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của những thanh niên, học sinh Đà Lạt. Những người dự đám tang vô cùng căm phẫn tội ác dã man của địch, nhưng cũng rất tự hào có những người con của quê hương  đã anh dũng chiến đấu và hy sinh, tô thắm thêm truyền thống cách mạng của nhân dân Đà Lạt. Trên các đường phố đoàn biểu tình đi qua có thêm hàng ngàn người xuống đường tham gia để đưa 5 thanh niên bị địch giết hại về nơi an nghỉ cuối cùng.

Nhằm xuyên tạc sự thật về phong trào đấu tranh của nhân dân, học sinh, sinh viên Đà Lạt, ngày 27 tháng 4, Tỉnh trưởng Tuyên Đức mời một phái đoàn nhà báo ở Sài Gòn gồm 21 người (có 7 người nước ngoài) lên Đà Lạt để quan sát và nhận xét tình hình. Trước lúc ngụy quyền tổ chức họp báo, Ban chấp hành cùng với hơn 20 học sinh, sinh viên đến nhà hàng Si Săng Gai (Chis Shanghai) gặp các nhà báo để phỏng vấn và trao đổi bản tuyên ngôn. Nội dung của bản tuyên ngôn nêu rõ:

- Quyền dân tộc tự quyết.

- Hoà bình Việt Nam phải được giải quyết tại Việt Nam, do người Việt Nam định đoạt.

- Thành lập Uỷ ban điều tra.

- Phản đối chính phủ Mỹ đã xen lấn vào nội bộ Việt Nam, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên ba lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế.

Lực lượng đấu tranh phủ nhận một số vấn đề do chính quyền địch bịa đặt, xuyên tạc sự thật phong trào đấu tranh. Cuộc gặp này đã làm thất bại âm mưu của địch và làm cho dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ thêm mục đích, ý nghĩa và kết quả phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Lạt.

Để ngăn chặn sự phát triển của phong trào, địch vừa tìm cách xoa dịu, mua chuộc quần chúng, vừa tăng cường khủng bố, bắt bớ những người lãnh đạo phong trào, nhiều người bị chúng trục xuất đi nơi khác. Trước tình hình đó, Ban chấp hành lực lượng đấu tranh bố trí một số cán bộ cốt cán rút vào  hoạt động bí mật, một số khác thoát ly ra vùng căn cứ, đồng thời  xây dựng các tổ chức công khai hợp pháp để tập hợp quần chúng và mở rộng mặt trận đấu tranh.

Từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 6 năm 1966, phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Lạt tiếp tục phát triển dưới hình thức đấu tranh của phật giáo. Do ảnh hưởng rộng lớn của phong trào đấu tranh và một số tín đồ phật giáo có ý thức chính trị, ngày 30 tháng 5 tại chùa Linh Sơn, đại đức Thích Quảng Thiện tự thiêu để chống chính quyền tay sai Thiệu -Kỳ. Ngày 23 tháng 6, nữ sinh Đặng Thị Ngọc Tuyền, 19 tuổi, tự thiêu để lại 6 bức thư gởi tổng thống Mỹ Giôn-xơn, Thiệu -Kỳ, nhân dân Mỹ và những người yêu tự do trên thế giới. Trong bức thư gởi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, có đoạn viết: “Đây là bức thư của một thiếu nữ Việt Nam gởi đến ông để cảnh cáo ông rằng: dân tộc Việt Nam đã ghê tởm ông vì ông đã dùng một chính sách quá sai lầm ở Việt Nam. Ông những tưởng ông dùng đô la để có thể thống trị được nước Việt Nam. Nhưng ông lầm, dân tộc Việt Nam không yếu hèn như ông tưởng. Vậy giờ phút này, tôi mong ông hãy sớm thay đổi chính sách tại Việt Nam và hãy bỏ mộng thống trị dân tộc này đi, vì đó chỉ là hão huyền thôi…”

Cuối tháng 6 năm 1966, địch tăng cường khủng bố, truy bắt hàng loạt cơ sở cách mạng và những người tham gia phong trào. Cuộc đấu tranh của nhân dân Đà Lạt tạm thời lắng xuống.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Lạt từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 6 năm 1966 là một cuộc biểu dương lực lượng lôi kéo hàng vạn lượt người tham gia. Tổ chức Đảng, cơ sở cốt cán đã tập hợp, lãnh đạo các tổ chức công khai hợp pháp, các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào. Nội dung và khẩu hiệu đấu tranh phù hợp với nguyện vọng của quần chúng  nhân dân, đồng thời làm cho nội bộ địch thêm mâu thuẫn, chia rẽ. Phong trào đấu tranh từ chỗ đòi dân sinh dân chủ đã phát triển thành phong trào đấu tranh chống chính quyền tay sai Thiệu -Kỳ, chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, đòi Mỹ cút về nước, đòi hoà bình, tự do, dân chủ.

Phong trào đấu tranh tuy giành được những thắng lợi lớn nhưng vẫn còn một số nhược điểm: tổ chức Đảng ở địa phương chưa bám sát được phong trào để kịp thời chỉ đạo, trong  hoạt động một số cán bộ cốt cán tại chỗ đã không đảm bảo nguyên tắc và phương thức công tác nên bị địch phát hiện và truy bắt, một số phải chuyển đi nơi khác  hoạt động. Diễn biến của phong trào có lúc mang tính bạo động bột phát của tuổi trẻ nên địch tìm cách đối phó, đàn áp. Mặt khác, Ban chấp hành “Lực lượng nhân dân, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ” chưa vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với mục tiêu đấu tranh ở đô thị, chưa chuẩn bị kế hoạch đối phó với hành động đàn áp của địch để tránh tổn thất cho phong trào.

Quá trình diễn biến của phong trào đã thể hiện rõ: học sinh, sinh viên là lực lượng  xung kích của cuộc đấu tranh, còn các tầng lớp nhân dân Đà Lạt trong đó phụ nữ chợ đóng vai trò quan trọng, là sức mạnh của phong trào đấu tranh, làm cho địch lo sợ, bị động đối phó. Trong suốt thời gian đấu tranh, phụ nữ chợ đã tích cực hưởng ứng và tự nguyện ủng hộ vật chất, quyên góp được trên 40.000 đồng (tiền ngụy), trên 1.000 hộp sữa và nhiều lương thực, thực phẩm cho lực lượng đấu tranh.

Cuối tháng 6 năm 1966, một số cán bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh về Trung ương Cục báo cáo quá trình diễn biến của phong trào. Trung ương Cục đánh giá cao kết quả và ý nghĩa phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Lạt, đồng thời cũng chỉ ra những mặt còn yếu của phong trào.

Đánh giá phong trào đấu tranh chính trị trong thời gian này, Hội nghị Khu ủy 6 (tháng 5 năm 1966) nhận định: “Phong trào đấu tranh chính trị ở một số thị xã, thị trấn trong khu đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, có tác dụng phối hợp cùng  hoạt động quân sự, mà rõ nét là phong trào đấu tranh chống địch của nhân dân Đà Lạt”.

Qua thực tế của phong trào, Tỉnh ủy Tuyên Đức và thị ủy Đà Lạt có thêm kinh nghiệm trong lãnh đạo và vận dụng phương châm, phương pháp công tác đô thị, tiếp tục đưa phong trào quần chúng phát triển lên một bước mới. Đối với thị xã Đà Lạt, Tỉnh ủy chủ trương nhanh chóng củng cố, xây dựng tổ chức Đảng, phát triển và bồi dưỡng cơ sở cách mạng bên trong để trực tiếp lãnh đạo và làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Công tác  xây dựng cơ sở cách mạng tại chỗ phải bảo đảm nguyên tắc ngăn cách và phương thức bí mật, đồng thời khéo léo tập hợp quần chúng vào các tổ chức công khai hợp pháp và nửa hợp pháp như Ban Trị sự, đại diện các ngành hàng ở chợ, Hiệu đoàn học sinh trong các trường học, Ban Trị sự chùa, khuôn hội phật giáo… Thị ủy Đà Lạt tổ chức các lớp huấn luyện tại các bàn đạp ven thị xã cho  những cốt cán, cơ sở cách mạng nhằm nâng cao nhận thức và khả năng công tác.

Trong năm 1966, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức phát triển đều trên các địa bàn, kết hợp được phương châm hai chân ba mũi. Ở vùng nông thôn, tuy chưa giải phóng được số dân như Nghị quyết Tỉnh ủy đề ra, nhưng bước đầu đã làm lỏng, rã kèm một số ấp dọc đường 11, 20, 21 kéo dài,  xây dựng được cơ sở bên trong. Tại Đà Lạt,  hoạt động vũ trang đã hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, phát triển thêm 140 cơ sở cốt cán và 10 du kích mật, hình thành các lõm chính trị ở vùng ven như: Nam Thiên, Đa Thiện, Xuân An, An Hoà và trong trung tâm thị xã như Thiên Thành, đường Hai Bà Trưng, Trương Công Định, thung lũng Kim Khuê. Ở các lõm chính trị, phần lớn quần chúng hướng về cách mạng, có tổ chức Đảng tại chỗ, có cơ sở cốt cán làm nòng cốt, bộ máy ngụy quyền chỉ tồn tại trên hình thức.

Trong quá trình  xây dựng và trưởng thành, lực lượng  vũ trang của tỉnh đã hình thành 3 thứ quân, tạo được thế bám trụ, chủ động đánh địch trên các địa bàn. Phong trào du kích chiến tranh phát triển đều, các đội công tác tích cực đánh địch bung ra ven ấp và du kích mật bên trong cũng bắt đầu  hoạt động. Năm 1966, lực lượng  vũ trang trong tỉnh đánh địch hàng chục trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 700 tên, thu 40 súng, phá hủy 7 xe quân sự, 3 máy bay. Với thành tích đó, 9 đơn vị và cá nhân được tặng thưởng huân chương, nhiều đơn vị đã lập thành tích xuất sắc trong chiến đấu, nội bộ đoàn kết tốt như đơn vị 810, 870 và các đội biệt động thị xã.

Mùa khô 1966-1967 theo kế hoạch chiến lược chung, Mỹ-ngụy ở Tuyên Đức tập trung lực lượng  thực hiện chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt và bình định” nhưng chủ yếu là “bình định”, kết hợp với bao vây kinh tế, đánh phá hành lang, vùng bàn đạp để đẩy lực lượng ta ra xa dân, xa thị xã. Địch đưa lực lượng  bảo an, các đoàn “bình định” xuống những địa bàn trọng điểm hoặc nơi có bộ máy kèm suy yếu để củng cố lại tổ chức, bắt dân rào ấp chiến lược. Toàn tỉnh có 203 ấp thì 180 ấp có bảo an, dân vệ, biệt kích đóng chốt, ngoài ra còn có bọn tề điệp, mật vụ bí mật theo dõi  hoạt động của ta. Ở các ấp ven thị xã, ban đêm chúng bắt dân vào ngủ trong nội ô, ban ngày cho về nhà làm ăn, nhằm cắt đứt sự liên lạc với lực lượng  cách mạng. Dọc các đường giao thông quan trọng, địch tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét hòng đánh bật lực lượng ta ra khỏi địa bàn  hoạt động.

Cuối năm 1966, Tỉnh ủy họp Hội nghị để kiểm điểm đánh giá tình hình và đề ra chủ trương phá âm mưu và thủ đoạn đánh phá của địch. Với quyết tâm đánh bại kế hoạch “bình định nông thôn” và kèm kẹp đô thị của địch, Nghị quyết Tỉnh ủy về nhiệm vụ năm 1967 chỉ rõ: Tích cực tấn công địch ở phía trước, lập thế bám trụ vững chắc của lực lượng  vũ trang và các đội công tác trên các địa bàn quy định, bám sát dân, sát địch, đánh trúng, đánh đau vào các đoàn bình định, tề điệp ác ôn và những đối tượng kèm, phát động quần chúng  phá ấp, phá kèm, chống lại âm mưu “bình định” gom dân, lấn chiếm của địch,  xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang tại chỗ. Địa bàn  hoạt động đánh địch là vùng tranh chấp, trục giao thông vùng yếu và thị xã, trọng điểm  hoạt động của tỉnh là dọc đường 21 kéo dài, đường 11.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Tỉnh ủy tập trung giải quyết một số khó khăn, nhất là vấn đề lương thực. Vùng căn cứ của tỉnh không có dân nên số lượng lương thực các cơ quan sản xuất không đủ cung cấp cho các đơn vị phía trước. Ở những nơi ta  hoạt động mạnh, địch hạn chế bán gạo cho dân, bao vây kinh tế, do đó cơ sở bên trong không tiếp tế được cho lực lượng bên ngoài. Tuy vậy, với quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, lực lượng  vũ trang  vẫn liên tục bám sát địa bàn  hoạt động, vừa đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, vừa đột ấp vũ trang  tuyên truyền, phá kèm,  xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang và giải quyết vấn đề lương thực.

Trên địa bàn trọng điểm huyện Đức Trọng, các đơn vị liên tục đột ấp đánh địch, vũ trang  tuyên truyền, xây dựng cơ sở bên trong và làm lỏng rã kèm một số ấp từ Thanh Bình đến Phú Sơn. Tháng 6 năm 1967, đại đội 810 và đại đội 816 của huyện Đức Trọng phối hợp đánh diệt đồn Psua do một trung đội dân vệ người dân tộc chốt giữ, phá ba ấp chiến lược Psua A, Psua B và Riông Tô, giải phóng 800 dân. Nhưng sau đó địch phản kích và kết hợp với bọn tề điệp tại chỗ rút hết dân ở 3 ấp này đưa về khu tập trung Dăm Pao trên đường 21 kéo dài.

Ở hướng Tây Nam thị xã Đà Lạt, các đơn vị đột nhập vào các ấp Tà Nung, Nam Ban, Bang Bị, Păng Thiêng để phá kèm, vũ trang tuyên truyền  xây dựng cơ sở, tạo bàn đạp đứng chân. Nhưng sau đó địch cũng dồn số dân ở đây về Cần Reo (Đức Trọng), Măng Lin (Đà Lạt) và Ăng K’Roét (Lạc Dương). Bên trong thị xã, lực lượng  biệt động tập kích bọn cố vấn Mỹ ở khách sạn Catina, kho quân cụ Quyết Tiến và tiêu diệt nhiều tên tề điệp, ác ôn. Công tác  xây dựng cơ sở được tiến hành có chiều sâu, bảo đảm nguyên tắc bí mật nên hầu hết các địa bàn đều có thực lực cách mạng.

Trên đường 11, đơn vị biệt động 850 của thị xã và đơn vị 870 của huyện Lạc Dương đánh bọn “bình định nông thôn” ở các ấp Thái Phiên, Xuân Thành, Đa Lộc. Ở các ấp Xuân Sơn, Đất Làng thuộc xã Xuân Trường, đơn vị 870 bám trụ đánh địch suốt một tháng, hỗ trợ nhân dân đấu tranh chống rào làng, giữ vững thế làm chủ.

Cùng với hoạt động vũ trang, các đơn vị công tác liên tục phát động quần chúng tấn công địch đưa các ấp Phú An, Phú Hội, Nghĩa Lâm, Nam Sơn 3, Cô Gia, Gia Thạnh, Đạ PRết (An Phước, Phú Sơn, Bằng Tiên thuộc xã Phú Sơn), Phú Thạnh, Quảng Hiệp, Định An (địa bàn huyện Đức Trọng); các ấp Ka Đô, Nghĩa Hiệp, Phú Thuận, Đời Mới, La Pui, Lạc Xuân, Lạc Lâm Làng, Bắc Hội (địa bàn huyện Đơn Dương); các ấp Trường Sơn, Xuân Sơn, Đất Làng, ĐaraHoa, DúTờnang, Tiêng Liêng (địa bàn huyện Lạc Dương); các ấp Đa Phú, Phước Thành, Cao Thắng, Bạch Đằng, Nguyễn Siêu, Thái Phiên, Sào Nam, Tây Hồ, Tự Tạo, Xuân An,Nam Thiên, Quang Trung, Quảng Thừa, Sầm Sơn (địa bàn thị xã Đà Lạt).

Thực lực chính trị bên trong có trên 400 cơ sở, riêng Đà Lạt có 320 cơ sở và 10 du kích mật. Hình thành các lõm chính trị ở các ấp Nam Thiên, Xuân An, Nguyễn Siêu, Bạch Đằng, Phước Thành, Thái Phiên, Sào Nam, Tây Hồ, Tự Tạo, Đa Thiện, đường Hai Bà Trưng, Trương Công Định, Thiên Thành.

Sau khi mở rộng phong trào sang phía Nam sông Đa Nhim, khoảng giữa năm 1967, Ban cán sự Đảng huyện Đơn Dương được thành lập, đánh dấu bước phát triển của phong trào cách mạng và tổ chức chỉ đạo ở địa phương. Toàn huyện tuy chỉ có 4 đội công tác và đơn vị vũ trang 815 nhưng đã liên tục bám ấp,  xây dựng cơ sở ở Bắc Hội, Lạc Xuân, Phú Thuận thành lập một chi bộ Đảng tại Phú Thuận và tiếp tục mở rộng phong trào ra các vùng xung quanh.

Để mở rộng vùng căn cứ của Khu ủy và mở thêm đường hành lang với tỉnh Tuyên Đức, tháng 12 năm 1967, tiểu đoàn 186 tập kích đồn Tà In, tiêu diệt một đại đội bảo an, bắn rơi chiếc máy bay trực thăng chở 4 tên sĩ quan, trong đó có tên quận trưởng Đơn Dương, phá các khu tập trung. Vùng mới giải phóng này thuộc sự chỉ đạo của Khu ủy 6 (gọi là K67) gồm 3 xã, 25 buôn ấp với gần 4.000 đồng bào dân tộc ít người.

Qua một năm đẩy mạnh hoạt động trên các địa bàn, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức đã có bước phát triển mới. Lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh địch 35 trận, diệt 420 tên. Tuy số lượng địch bị diệt ít hơn so với năm 1966, nhưng ta đã đánh trúng lực lượng kèm kẹp của địch ở xã ấp, có tác động hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Vì vậy, ở vùng nông thôn thực lực cách mạng tiếp tục phát triển như Xuân Sơn, Đất Làng, Đa Lộc (trên đường 11), Lạc Lâm, Phú Thuận, Ka Đô, Nam Hiệp (Đơn Dương), Quảng Hiệp (Đức Trọng), phá lỏng rã kèm ở 5 ấp với 1.700 dân trên đường 21 kéo dài. Đó là điều kiện thuận lợi tạo ra thế và lực mới để đưa phong trào cách mạng địa phương phát triển mạnh mẽ toàn diện hơn.

2. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968-một bước chuyển biến lớn của phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức

Cuối năm 1967, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao. Trên chiến trường Tuyên Đức, lực lượng địch có khoảng 600 tên Mỹ và chư hầu, 2.500 tên bảo an, 2.000 tên cộng hoà; 28 đoàn “bình định nông thôn” và 3.500 tên phòng vệ dân sự. Trong khi đó, lực lượng  vũ trang  của tỉnh chỉ có tiểu đoàn 810, 1 trung đội công binh, 1 trung đội đặc công. Huyện Đức Trọng và huyện Đơn Dương mỗi huyện có 1 đại đội bộ binh, huyện Lạc Dương có 1 trung đội tăng cường (thiếu), thị xã Đà Lạt có hai đội biệt động. Tuy vậy tỉnh Tuyên Đức vẫn có điều kiện thuận lợi để cùng phối hợp với toàn Miền trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đầu xuân 1968.

Sau khi được quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) và những nhiệm vụ cụ thể của Khu ủy giao cho địa phương, Tỉnh ủy Tuyên Đức họp để đánh giá tình hình phong trào cách mạng trong tỉnh, rà soát lại thực lực trên các địa bàn. Hội nghị nhận định: Đây là thời cơ thuận lợi cho địa phương tranh thủ đưa phong trào chính trị, vũ trang  tấn công địch lên một bước mới và giành thắng lợi to lớn hơn những năm trước để tạo ra bước ngoặt có tính nhảy vọt cho phong trào cách mạng địa phương.

Được sự chỉ đạo của Khu ủy và Quân khu ủy, Tỉnh ủy quyết định tập trung phần lớn lực lượng  vũ trang  của tỉnh phối hợp với các đơn vị của khu đến chi viện, tiến công những vị trí quan trọng của địch ở Đà Lạt như: Tiểu khu, Tỉnh đoàn bảo an, các trường sĩ quan, sân bay, trận địa pháo nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Ở vùng nông thôn, các đơn vị bộ đội địa phương, đội công tác đánh chiếm các chi khu, quận lỵ, hỗ trợ quần chúng  diệt ác phá kèm, phá các khu tập trung đưa dân về buôn làng cũ, thành lập chính quyền cách mạng.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đầu xuân 1968, Khu ủy chọn thị xã Đà Lạt làm trọng điểm 2 (thị xã Phan Thiết là trọng điểm 1), vì vậy ngoài việc tăng cường hai tiểu đoàn 186 và 145 đến phối hợp  hoạt động, Khu ủy còn cử một số cán bộ Khu ủy và Quân khu ủy xuống trực tiếp chỉ đạo, thành lập do đồng chí Vũ Anh Ba, ủy viên Thường vụ Khu ủy 6 làm Bí thư.

Do thời gian chuẩn bị hết sức khẩn trương và điều kiện cơ động gặp nhiều khó khăn nên đến ngày nổ súng tấn công, hai tiểu đoàn tăng cường vẫn chưa đến vị trí tập kết. Trước tình hình đó, Đảng ủy mặt trận quyết định: dù bất cứ giá nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ Khu ủy giao, điều động gấp các đơn vị bộ đội địa phương huyện[53] lên tăng cường cho các hướng tấn công vào Đà Lạt, còn ở vùng nông thôn do các đội công tác đảm nhận, đồng thời phân công cán bộ Tỉnh ủy xuống các hướng trực tiếp chỉ đạo. Kế hoạch tấn công vào Đà Lạt được xác định trên 3 hướng:

- Hướng Tây Nam được chọn làm hướng chủ yếu, mục tiêu chính là tiểu khu Tuyên Đức.

- Hướng Tây Bắc là hướng trọng điểm nhằm đánh chiếm tỉnh đoàn Bảo an, dinh Tỉnh trưởng, Ty công an.

- Hướng Đông Nam là hướng thứ yếu, mục tiêu chính là trường Võ Bị.

Đêm 30 tháng 1 năm 1968 (tức đêm giao thừa tết Mậu Thân), do công tác chuẩn bị địa hình chưa được chu đáo nên cả ba hướng không vào được trong thị xã, các đơn vị phải rút ra bàn đạp để củng cố lực lượng .

Đêm 31 tháng 1 (tức đêm mồng một tết), các đơn vị tiếp tục đột nhập vào thị xã và đồng loạt nổ súng đánh các mục tiêu đã định. Như vậy ta tấn công vào Đà Lạt chậm một ngày so với kế hoạch chung của toàn Miền.

Trên hướng tấn công chủ yếu, đại đội 816, hai đại đội của tiểu đoàn 145 và đội biệt động 852 đánh chiếm một phần tiểu khu, kiểm soát Viện Pátxtơ và 9 sở, ty. Ngày hôm sau, lực lượng địch ở tiểu khu phản kích quyết liệt nên các đơn vị phải rút ra các ấp Xanh Giăng, Du Sinh, Nam Thiên, An Lạc trụ lại đánh địch phản kích và pháo kích sân bay Cam Ly. Tối 5 tháng 2, khi tiểu đoàn 186 cùng với tiểu đoàn 145 và đại đội 852 đánh chiếm phần lớn tiểu khu, địch cho một tiểu đoàn biệt động quân phản kích, lực lượng ta phải rút ra trụ lại tại khu vực viện Patxtơ liên tục đánh địch phản kích suốt từ sáng đến 12 giờ ngày 6 tháng 2 năm 1968.

Ở hướng Tây Bắc, đại đội 810, trung đội đặc công, một đội biệt động và 30 cán bộ chính trị đánh vào Tỉnh đoàn Bảo an, Lữ quán thanh niên, dinh Tỉnh trưởng, Ty công an nhưng không dứt điểm. Ở Lữ quán Thanh niên và Dinh Tỉnh trưởng ta đã tiêu diệt trên 200 tên lính Đại Hàn, sau đó triển khai chiếm rạp hát Hoà Bình, đánh phản kích bắt sống một tên thiếu tá. Ở trung tâm thành phố, nhân dân đã dùng bàn ghế, đồ đạc ra làm chướng ngại vật cùng bộ đội chiến đấu, sau đó lực lượng rút ra, trụ lại tại Đa Cát và chiến đấu rất anh dũng suốt 12 ngày đêm, hỗ trợ các ấp Đa Cát, Đa Phú nổi dậy phá kèm, giành quyền làm chủ và thành lập chính quyền cách mạng.

Ở hướng Đông Nam, các đơn vị 815, 870, đội biệt động 850 phối hợp đánh địch ở Trại Hầm, ga xe lửa, Nha địa dư và làm chủ khu vực trường Yersin, bám trụ suốt hai ngày đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, sau đó rút ra vùng ven để củng cố lực lượng.

Trong những ngày lực lượng vũ trang liên tục tiến công địch, cơ sở cốt cán bên trong Đà Lạt đã vận động quần chúng ở nhiều phường, ấp nổi dậy phá bộ máy kèm tại chỗ. Ở những nơi lực lượng  vũ trang  bám trụ, mặc dù địch phản kích ác liệt, dùng máy bay ném bom, bắn phá, nhưng đồng bào đã dũng cảm vượt qua bom đạn để tiếp tế cho bộ đội, tải thương, nắm tình hình  hoạt động của địch báo cho các đơn vị để có kế hoạch đối phó. Trong cuộc chiến đấu này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quần chúng  được phát huy mạnh mẽ, có cơ sở cách mạng được kết nạp vào Đảng ngay tại địa bàn  hoạt động, có người đã anh dũng hy sinh. Ở khu vực trường Yersin, có gia đình nuôi dấu, chăm sóc hai chiến sĩ ta bị thương suốt 7 ngày, sau đó dẫn đường đưa ra ngoài để trở về đơn vị. Ở các ấp Đa Cát, Đa Phú, sau khi thành lập chính quyền cách mạng, lực lượng  dân quân tự vệ được hình thành làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an, truy bắt bọn tề điệp ác ôn, phục vụ các đơn vị bám trụ đánh địch, nhiều thanh niên đã tham gia bổ sung vào các đơn vị bộ đội.

Tuy có chuẩn bị đối phó sự tấn công của ta nhưng địch vẫn bị bất ngờ, sau đó chúng tăng cường đến Đà Lạt một tiểu đoàn cộng hoà, một tiểu đoàn biệt động quân, một biệt đoàn cảnh sát phối hợp với lực lượng tại chỗ tổ chức phòng thủ xung quanh thị xã, các vị trí quan trọng được bảo vệ chặt chẽ hơn trước.

Đêm 17 tháng 2 năm 1968, các đơn vị bước vào đợt 2 của chiến dịch (từ 17 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3 năm 1968), đồng loạt nổ súng tiến công địch trên 3 hướng. Lúc này hai tiểu đoàn 186, 145 đã đến đủ và phối hợp với các đơn vị địa phương đánh địch. Ở hướng Tây Bắc, tiểu đoàn 186, đại đội 810, đội biệt động 850 chia làm 3 mũi tấn công trung tâm chính trị, trận địa pháo và khu vực ấp Đa Thành. Nhưng khi mũi 1 và mũi 2 vào đến ấp Kim Thạch gặp địch chốt chặn nên phải chiến đấu tại đây suốt ngày 18 tháng 2, diệt 200 tên, sau đó trụ lại 2 ngày đánh địch phản kích, còn mũi thứ 3, sau khi đánh địch ở ấp Đa Thành đã trụ lại đánh bọn địch chi viện, diệt hơn 100 tên. Trên hướng Tây Nam, tiểu đoàn 145, đại đội 816, đội biệt động 852 đánh địch đang chốt giữ các ấp Du Sinh, Nam Thiên, Xanh Giăng và pháo kích vào tiểu khu. Hướng Đông Nam, các đội công tác và một bộ phận bộ đội địa phương huyện vào khu vực Trại Mát diệt ác ôn, làm công tác binh vận và phát động quần chúng .

Sang đợt 2, các đơn vị vẫn tập trung tấn công vào Đà Lạt, nhưng trước tình hình địch tăng cường lực lượng  phòng giữ và phản kích quyết liệt nên Đảng uỷ mặt trận và Tỉnh ủy Tuyên Đức chủ trương đưa phần lớn lực lượng  ra  hoạt động vùng nông thôn, nhằm kéo địch trong thị xã ra để tiêu diệt, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá kèm, giành quyền làm chủ. Ngày 21 tháng 2, ta chỉ để lại 1/3 lực lượng  tiếp tục đánh địch trong thị xã, tiểu đoàn 186, tiểu đoàn 145, đại đội 810 chuyển ra đánh địch vùng Phú Hội, Tùng Nghĩa, trên đường 20 và các ấp dọc đường 21 kéo dài. Đại đội 815 hoạt động vùng Lạc Xuân trên đường 21, đại đội 870  hoạt động vùng Xuân Trường, Xuân Thọ trên đường 11.

Qua hai đợt  hoạt động cao điểm xuân 1968, quân và dân tỉnh Tuyên Đức cùng phối hợp với hai tiểu đoàn của khu tăng cường đã đánh địch 180 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.700 tên (có 200 tên Mỹ và chư hầu), trên 700 tên khác đào rã ngũ, bắn rơi và phá hủy 14 máy bay, bắn cháy và phá hỏng gần 100 xe quân sự (có 10 xe bọc thép), bức rút 18 đồn bảo an. Kết hợp với  hoạt động quân sự, các đơn vị còn tổ chức trên 100 cuộc mít tinh với gần 5.000 lượt người dự, phát động quần chúng  diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ ở 6 ấp.

Thực hiện Nghị quyết Bộ chính trị Trung ương Đảng (tháng 4 năm 1968) về tiếp tục mở đợt tấn công và nổi dậy mùa hè 1968, cuối tháng 4 năm 1968, lực lượng vũ trang  trong tỉnh khẩn trương củng cố lực lượng, chuẩn bị chiến trường để bước vào đợt  hoạt động mới. Tỉnh ủy chọn huyện Đức Trọng làm trọng điểm, đồng thời dùng lực lượng đặc công, biệt động đánh vào một số vị trí quan trọng của địch ở Đà Lạt, sử dụng hỏa lực mạnh bắn vào sân bay Cam Ly, trường Võ bị và các trận địa pháo của địch. Trong đợt 3 của đợt tổng tiến công và nổi dậy (từ ngày 1 đến 31 tháng 5), quân và dân trong tỉnh phối hợp với 2 tiểu đoàn 186, 145 đánh địch 180 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.200 tên, tấn công 23 mục tiêu trong thị xã, trong đó có những nơi quan trọng như Trung tâm chính trị, Đại học quân sự, trường Võ bị, Cảnh sát cơ bản, Tiểu khu… Đến cuối tháng 5 năm 1968, toàn tỉnh có 129 ấp lỏng rã kèm (chiếm 65% số ấp), thực lực cách mạng trên các địa bàn phát triển thêm, 7 ấp có chi bộ Đảng, 10 ấp có chi đoàn bên trong. Riêng Đà Lạt  xây dựng được 150 cơ sở chính trị, 30 du kích mật.

Sau những đợt tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam, từ giữa năm 1968, Mỹ- ngụy thực hiện chiến lược “quét và giữ”, nhằm đẩy lực lượng ta ra khỏi thị xã, thị trấn và giành lại những vùng nông thôn bị mất. Ở Tuyên Đức, địch tập trung lực lượng phản kích, đánh phá phong trào cách mạng quyết liệt hơn trước. Càn quét, đánh phá đến đâu chúng gom dân vào các ấp chiến lược, củng cố bộ máy kèm tại chỗ, tiến hành nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đánh phá cơ sở cách mạng bên trong. Chúng còn đẩy mạnh bao vây kinh tế, cho máy bay bắn phá, rải chất độc hoá học ở những khu vực sản xuất và hậu cứ của ta.

Cuối tháng 5 năm 1968, Tỉnh ủy họp đánh giá kết quả qua ba đợt tổng tiến công và nổi dậy, đề ra nhiệm vụ trong đợt Thu Đông để phối hợp với toàn Miền giành thắng lợi mới. Hội nghị khẳng định: qua các đợt tiến công và nổi dậy, phong trào cách mạng trong tỉnh có những bước phát triển nhảy vọt, làm thay đổi nhanh chóng cả vùng nông thôn và thị xã Đà Lạt. Ta đã mở phong trào ra nhiều vùng nông thôn rộng lớn sát thị xã, tạo ra chiến trường mới để tiếp tục tấn công địch. Hội nghị đề ra nhiệm vụ  hoạt động quân sự Thu Đông 1968 là: Làm cho địch càng sa sút thêm một bước về các mặt, đối tượng tấn công là lực lượng cơ động và lực lượng kèm, các đoàn bình định, tề điệp, đồng thời phá hậu cứ và phương tiện chiến tranh của địch.

Trong đợt  hoạt động Thu Đông 1968, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về lương thực, vũ khí, nhưng theo chủ trương chung, lực lượng  vũ trang trong tỉnh vẫn liên tục tấn công địch ở quận lỵ D’ran, đồn M’Lọn, yếu khu Thạnh Mỹ, pháo kích quận lỵ Đức Trọng, sân bay Cam Ly, trường Võ bị, đột ấp vũ trang tuyên truyền, tiêu diệt bộ máy kèm tại chỗ và  xây dựng cơ sở cách mạng bên trong.

Qua một năm liên tục tiến công địch, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Quân và dân trong tỉnh đánh địch trên 500 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 tên (có 200 tên Mỹ và chư hầu), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Hoạt động quân sự có tác động hỗ trợ cho phong trào diệt ác, phá kèm, giành quyền làm chủ của quần chúng, điểm nổi bật của phong trào là vừa đẩy mạnh  hoạt động quân sự, chính trị, binh vận, vừa chú trọng  xây dựng thực lực cách mạng tại chỗ,  xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Ngoài các đơn vị chiến đấu, tỉnh còn  xây dựng được 20 đội công tác, 129 du kích mật (trong đó có 13 đảng viên, 23 đoàn viên) và 83 dân quân du kích vùng căn cứ  huyện Lạc Dương.

Tuy nhiên, phong trào cách mạng địa phương vẫn còn những mặt yếu, việc vận dụng và kết hợp phương châm "hai chân ba mũi” chưa chặt chẽ. Thực lực cách mạng bên trong tuy có phát triển nhưng còn ít, khả năng công tác còn hạn chế. Những mặt còn yếu đó đã làm ảnh hưởng sự phát triển của phong trào. Nhưng so với những năm trước thì năm 1968 phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức đã phát triển rộng mạnh, tương đối toàn diện và vững chắc hơn.

Giữa lúc phong trào cách mạng hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức đang giành được những thắng lợi quan trọng, thì ở hậu phương lớn miền Bắc nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang kết nghĩa đã thực hiện nhiều phong trào thi đua “Vì miền Nam ruột thịt và Lâm Đồng thân yêu”. Với khẩu hiệu “Vì tương lai của các con, cháu tỉnh Lâm Đồng kết nghĩa”, Tỉnh Hội phụ nữ Hà Giang vận động chị em các dân tộc lao động lấy tiền góp vào quỹ xây dựng lớp mẫu giáo cho các cháu Lâm Đồng. Hưởng ứng cuộc vận động đó, từ cuối năm 1964 đến đầu năm 1966, chị em đã đóng góp vào qũy được 4.200 đồng. Vụ mùa năm 1967, đoàn thanh niên tỉnh Hà Giang sôi nổi hưởng ứng phong trào thi đua  xây dựng khu ruộng Lâm Đồng kiểu mẫu 5 tấn thắng Mỹ” do Tỉnh Đoàn phát động. Kết quả có 84,13 ha ruộng kiểu mẫu đạt năng suất từ 27 đến 46,17 tạ/ha vụ mùa, thanh niên 12 xã đã xung phong nhận chăm bón 203,4 ha ruộng xấu thành ruộng tốt và đưa năng suất lên cao, có nơi đạt 54 tạ/ha.

Đánh giá ý nghĩa phong trào thi đua này, trong bức thư của Ban liên lạc đồng hương tỉnh Lâm Đồng gởi đoàn thanh niên Hà Giang ngày 7 tháng 8 năm 1967 có đoạn viết: “Đây là một phong trào không những có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của phong trào thanh niên nói chung mà còn có ý nghĩa thắt chặt hơn nữa mối tình kết nghĩa Bắc Nam anh em, Lâm Đồng-Hà Giang. Đó là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quân dân Lâm Đồng xông lên giết giặc nhiều hơn nữa…”[54].

Cuối tháng 12 năm 1967, tỉnh đoàn Hà Giang mở hội nghị tổng kết kinh nghiệm và tiếp tục phát động phong trào làm tốt vụ Đông Xuân 1967-1968 với mức phấn đấu làm 20% diện tích đạt tiêu chuẩn ruộng kiểu mẫu.

Sau gần 4 năm đương đầu với chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, Đảng bộ Lâm Đồng và Đảng bộ Tuyên Đức đã quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng vào tình hình thực tế ở mỗi địa phương một cách thích hợp, nhất là trong  đợt một xuân Mậu Thân 1968. Đảng bộ hai tỉnh lãnh đạo quân và dân trong tỉnh vựơt qua mọi khó khăn, gian khổ ác liệt, giành nhiều thắng lợi quan trọng, đưa phong trào cách mạng địa phương không ngừng phát triển và góp phần cùng toàn miền đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của địch.

Tuy vậy, ở mỗi địa phương phong trào phát triển không đều trên các địa bàn, chưa kết hợp  chặt chẽ  hoạt động quân sự, đấu tranh chính trị với công tác binh vận, thực lực bên trong còn mỏng và yếu, chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Trong chỉ đạo, do chưa thấy hết âm mưu, thủ đoạn của địch nên chưa đối phó kịp thời và có hiệu quả, việc củng cố địa bàn nông thôn mới mở ra chưa vững chắc.

Phát huy những thắng lợi đã đạt được và khắc phục những mặt còn tồn tại, Đảng bộ Lâm Đồng và Đảng bộ Tuyên Đức tiếp tục lãnh đạo quân và dân trong tỉnh quyết tâm đánh bại những âm mưu thủ đoạn và các chiến lược chiến tranh mới của Mỹ-nguỵ.

Chương IV

QUYẾT TÂM GIỮ VỮNG THẾ TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC,

ĐƯA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG PHÁT TRIỂN

 TOÀN DIỆN, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HOÁ  CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

(Từ đầu năm 1969 đến tháng 1 năm 1973)

 

Thắng lợi to lớn và toàn diện của quân và dân ta trên cả hai miền Nam-Bắc trong năm 1968 đã làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá miền Bắc, chính thức đàm phán ở Hội nghị bốn bên về Việt Nam tại Pari. Trong khi đó, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh chống Mỹ của nhân dân và các lực lượng  hoà bình trên thế giới, phong trào đòi chấm dứt chiến tranh rút quân Mỹ về nước của nhân dân tiến bộ Mỹ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong tình thế bị động, lúng túng và nhằm đối phó với phong trào cách mạng miền Nam, đầu năm 1969, tổng thống Mỹ Ních xơn đề ra học thuyết Ních-xơn và chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”.

Bản chất của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” là tìm cách rút dần quân Mỹ mà vẫn duy trì được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta. Để thực hiện mục tiêu chiến lược trên, chính quyền Ních-xơn triển khai kế hoạch “bình định và phát triển”, coi chương trình bình định là “trụ cột” là “xương sống” của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Trên chiến trường miền Nam, Mỹ-nguỵ ra sức củng cố,  xây dựng hệ thống phòng ngự dày đặc với những vành đai bảo vệ từ xa, bao quanh các thành phố, thị xã và đường giao thông quan trọng, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá vùng căn cứ của ta. Từ Đông Xuân 1968-1969, Mỹ-nguỵ tiếp tục chương trình “bình định cấp tốc”, tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn nhằm giành lại những vùng đã mất trong năm 1968, ở một số nơi chúng gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất.

Chấp hành chủ trương của Bộ chính trị Trung ương Đảng về phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong năm 1969, đầu năm 1969 Trung ương Cục chỉ thị cho các chiến trường phải “nắm vững thời cơ, kiên quyết xốc tới nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ và phương tiện chiến tranh của Mỹ-nguỵ, phát động một cao trào chính trị, binh vận và du kích chiến tranh rộng rãi, đánh bại về cơ bản kế hoạch “bình định cấp tốc” của địch, làm tan rã phần lớn ngụy quân, ngụy quyền, mở rộng vùng giải phóng nông thôn, làm chuyển biến lực lượng so sánh có lợi cho ta…”[55].

Trên chiến trường khu 6, thắng lợi qua các đợt tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 đã đưa phong trào cách mạng các địa phương phát triển lên một bước mới. Tháng 11 năm 1968, Khu ủy họp hội nghị để quán triệt Nghị quyết của Bộ chính trị, trên cơ sở đó đề ra nhiệm vụ trước mắt của toàn Khu là: …“táo bạo vươn lên tranh thủ thời gian, lợi dụng thời cơ đẩy mạnh các hoạt động tấn công địch, nhất là tấn công trên chiến trường vùng ven thị xã, vùng yếu nông thôn, phá tan âm mưu “quét và giữ” của địch, làm cho chúng nhanh chóng suy yếu, quyết tâm giành cho được về ta vùng ven thị xã, vùng yếu nông thôn”.

Với quyết tâm đó, Đông Xuân 1968-1969, quân và dân các địa phương trong khu liên tục tấn công địch, làm thất bại những mục tiêu cơ bản trong kế hoạch “bình định cấp tốc” của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 13.000 tên địch (có gần 3.000 tên Mỹ, chư hầu), bắn rơi và phá hủy 20 máy bay, bắn cháy và phá hỏng trên 200 xe quân sự, hỗ trợ cho quần chúng ở một số nơi nổi dậy phá ấp, phá kèm, giành quyền làm chủ.

I. Đảng bộ Lâm Đồng (cũ) lãnh đạo phong trào du kích chiến tranh, tích cực đánh địch mở rộng vùng giải phóng

1. Tập trung lực lượng  đánh bại âm mưu và hành động của địch, giữ vững phong trào cách mạng (từ đầu năm 1969 đến tháng 6 năm 1970)

Đông Xuân 1968-1969 theo kế hoạch chiến lược chung, quân địch ở Lâm Đồng thực hiện chương trình “bình định cấp tốc”, lực lượng cơ động Mỹ-nguỵ được tăng cường 1.000 tên, đưa tổng số quân lên trên 5.000 tên. Với lực lượng  đó, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1969 chúng tiến hành trên 100 cuộc hành quân càn quét nhằm giành dân, chiếm đất, đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng.

Ở vùng căn cứ và vùng mới giải phóng, lực lượng cơ động Mỹ-nguỵ càn quét đánh phá hành lang, kho tàng và hậu cứ của ta. Chúng bắt đi một số dân vùng căn cứ, đốt cháy 12 buôn, cướp hàng chục tấn lương thực, gia súc và nhiều tài sản của đồng bào. Tại những nơi bị ta đánh trả quyết liệt, chúng cho pháo tầm xa bắn, máy bay rải chất độc hoá học phá hoại sản xuất, làm cho đời sống của đồng bào và các cơ quan gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra chúng còn tung biệt kích, gián điệp vào vùng căn cứ  để nắm tình hình, phao tin đồn nhảm, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, gây chia rẽ giữa các dân tộc.

Ở vùng tranh chấp, địch đưa lực lượng bảo an, dân vệ đến càn quét, gom dân vào các khu tập trung, ấp chiến lược, tiếp tục củng cố bộ máy kèm tại chỗ, bắt thanh niên đi lính và tổ chức lực lượng  phòng vệ dân sự.

Về kinh tế, địch thành lập các tổ chức buôn bán, chăn nuôi, làm ruộng do nguỵ quyền cho vay vốn, giúp đỡ phương tiện và dưới sự hướng dẫn của các đoàn bình định, thực chất là để lừa bịp, mua chuộc và tranh thủ quần chúng.

Về chính trị, tổ chức “Phượng Hoàng”[56] vừa  hoạt động công khai, vừa  hoạt động bí mật với nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, các đảng phái phản động như Đại Việt, Quốc dân Đảng, Dân xã, Đại đoàn kết… bắt đầu  hoạt động mạnh để tranh thủ nắm dân phục vụ mục đích lâu dài của chúng.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết 8 của Trung ương Cục (tháng 10 năm 1968) và Nghị quyết Hội nghị du kích chiến tranh toàn Miền lần thứ 4 (tháng 10 năm 1968), tháng 12 năm 1968, Tỉnh ủy Lâm Đồng tổ chức hội nghị kiểm điểm, đánh giá phong trào du kích chiến tranh của tỉnh trong hai năm 1967-1968 và học tập những điển hình của toàn Miền. Hội nghị đề ra nhiệm vụ của những năm tới là “xây dựng và mở rộng phong trào du kích chiến tranh lên một bước mới, rộng mạnh toàn diện để kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho địa phương: diệt địch giành dân, giành quyền làm chủ của quần chúng; móc nối  xây dựng và phát triển cơ sở chính trị, thực lực cách mạng bên trong”.

Trước yêu cầu mới của cách mạng, Tỉnh ủy tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cơ quan, đơn vị để quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ thấy rõ thắng lợi to lớn, toàn diện của quân và dân miền Nam trong các đợt tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, thấy được âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Nhiệm vụ trọng tâm của quân và dân trong tỉnh lúc này là tập trung đánh bại “kế hoạch bình định”, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hỗ trợ nhân dân phá ấp, phá kèm, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, làm tốt công tác binh vận và  xây dựng căn cứ vững mạnh.

Thực hiện nhiệm vụ trên, các đơn vị vũ trang trong tỉnh đẩy mạnh  hoạt động đánh địch trên các địa bàn, buộc chúng phải căng kéo lực lượng đối phó. Điển hình là trận tập kích một đại đội Mỹ thuộc lữ đoàn dù 173 ở suối Đạ Nga, diệt 80 tên (tháng 4 năm 1969), trận đánh thiệt hại nặng đại đội 3 thuộc trung đoàn 53 ngụy ở Đạ Giam (ngày 7 tháng 4 năm 1969) và nhiều trận phối hợp đánh địch ở thị xã, thị trấn.

Với phương thức  hoạt động nhỏ lẻ và nhiều cách đánh mưu trí dũng cảm, các đội công tác và du kích mật đã có nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao. Có trận đánh địch giữa ban ngày ngay tại sào huyệt của chúng như diệt tên trưởng ban “Phượng Hoàng” huyện Di Linh, tên Phó ty chiêu hồi, hay trận diệt 2 tên cố vấn Mỹ và 2 tên ngụy ở nhà hàng Đức Thiện (thị xã B’lao).

Phối hợp với  hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị với nhiều hình thức thích hợp đã lôi cuốn và tập hợp được các tầng lớp nhân dân tham gia. Chi bộ Đảng và cơ sở cách mạng bên trong vận động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, chống âm mưu bình định của địch, chống lập phòng vệ dân sự và đòi chồng con về nhà làm ăn. Tháng 7 năm 1969, trên 1.000 đồng bào ở các ấp 12, 16, 17 đấu tranh đòi giải quyết đời sống, buộc địch phải chấp nhận một số yêu sách.

Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng có tác động lôi kéo binh lính địch tham gia. Ở các ấp Đạ Nghịch, B’Kẻ, Tân Dân, Kon Hin Đạ trong cùng một ngày có 80 phòng vệ dân sự kéo lên quận đấu tranh đòi trả súng. Tại Di Linh, trên 400 thương phế binh kéo lên quận, tỉnh đấu tranh vạch mặt bọn tay sai bán nước và tố cáo những đối xử bất công của chính quyền đối với họ. Cuộc đấu tranh đã có tác động đến tinh thần binh lính đang cầm súng làm tay sai cho Mỹ-nguỵ.

Tháng 9 năm 1969, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng để quán triệt Nghị quyết 9 của Trung ương Cục, đánh giá tình hình địa phương và đề ra những nhiệm vụ cụ thể trong Đông Xuân 1969-1970.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang trong tỉnh cùng phối hợp với tiểu đoàn 200C của khu tiếp tục giữ vững thế tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét của địch. Đặc biệt trong hai trận đánh vào hậu cứ của trung đoàn 53 ngụy ở Di Linh, các đơn vị đã tiêu diệt gần 700 tên, buộc địch phải điều hai tiểu đoàn từ Tuyên Đức xuống giữ Di Linh  và giải tỏa đường 20.

Sau hơn một năm đối phó với chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, phong trào cách mạng địa phương đã có bước phát triển mới, giữ vững thế tiến công địch bằng “hai chân ba mũi”.

Về  hoạt động quân sự, lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh địch gần 870 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 5.200 tên, thu 342 súng các loại, bắn rơi và phá hủy 24 máy bay, bắn bị thương 23 chiếc khác. Đột nhập 325 lần vào 87 ấp diệt 772 tên ác ôn, làm ran rã tổ chức phòng vệ dân sự ở 3 xã, 21 ấp, đồn điền, đưa trên 8.000 dân lên thế làm chủ và trên 48.500 dân lên thế tranh chấp.

Về đấu tranh chính trị và công tác binh vận, có gần 170 cuộc đấu tranh với trên 12.600 lượt người tham gia. Các đội công tác và cơ sở bên trong đã tuyên truyền, giáo dục 630 gia đình ngụy quân, ngụy quyền, rải trên 10.000 truyền đơn, làm tan rã đại đội bảo an 545 và 15 đội phòng vệ dân sự, vận động được trên 1.000 binh lính đào rã ngũ làm cho nhiều đơn vị địch thiếu hụt quân số, tinh thần sa sút.

Với sự phát triển của phong trào, thực lực cách mạng trong vùng địch kiểm soát không ngừng tăng lên. Toàn tỉnh có 87 ấp thì 31 ấp có cơ sở Đảng (10 ấp có chi bộ), 51 ấp hình thành các tổ chức quần chúng  với hàng nghìn hội viên.

Đồng thời với việc chỉ đạo phong trào ở phía trước, Tỉnh ủy thường xuyên chú trọng nhiệm vụ  xây dựng vùng căn cứ. Nghị quyết Tỉnh ủy tháng 12 năm 1968 chỉ rõ: Phải chú ý đúng mức việc xây dựng phía sau thành một căn cứ hoàn chỉnh vững chắc về mọi mặt, bảo đảm cho các cơ quan chỉ đạo và lực lượng  vũ trang bung ra tấn công địch ở phía trước, là lá cờ hiệu triệu cho nhân dân vùng địch hướng về cách mạng, đồng thời là chỗ dựa vững chắc bảo đảm cho cuộc chiến đấu lâu dài và thắng địch trong mọi tình huống.

Sau khi chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời (ngày 6 tháng 6 năm 1969), tại tỉnh Lâm Đồng, chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở được thành lập. Ở vùng căn cứ, Uỷ ban nhân dân cách mạng các cấp lãnh đạo nhân dân tiếp tục thực hiện 5 phong trào thi đua,  xây dựng căn cứ vững mạnh, góp phần cùng phía trước đánh địch.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng ở vùng căn cứ  là đẩy mạnh tăng gia sản xuất để bảo đảm đời sống cho các cơ quan đơn vị và nhân dân. Trước tình hình địch bao vây, phá hoại kinh tế, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo các cấp, các ngành và các địa phương tiếp tục thực hiện phương châm “lấy ngắn nuôi dài, trồng trọt quanh năm thu hoạch 4 mùa”, do vậy nạn đói ở vùng căn cứ  cơ bản được giải quyết và có một phần dự trữ. Cơ quan kinh tài của tỉnh cung cấp cho nhân dân vùng mất mùa hoặc bị địch phá hoại nặng hàng chục tấn lương thực, muối, thuốc chữa bệnh, vải và dụng cụ sản xuất. Việc thu thuế lưu thông trên đường 20, trong các đồn điền và bán lâm sản ở các cửa khẩu vẫn được tiến hành có kết quả.

Đời sống văn hoá, xã hội ở vùng căn cứ có nhiều tiến bộ, tất cả các xã, buôn đều có cán bộ y tế, tổ chức nhiều đợt phòng và chống dịch, điều trị cho hàng ngàn lượt người, từng bước xoá bỏ những hủ tục mê tín dị đoan có hại đến đời sống và sức khoẻ của đồng bào. Ở các cơ quan, buôn làng, phong trào học văn hoá được nhiều người hưởng ứng, các lớp học duy trì thường xuyên, số người biết đọc, biết viết ngày càng nhiều.

Gắn chặt nhiệm vụ sản xuất với đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, dân quân du kích vùng căn cứ  đã độc lập đánh địch trên 100 trận diệt gần 600 tên địch. Ngoài ra còn phối hợp với các đơn vị bộ đội đánh địch ở khu vực Tân Rai, vùng 3, đánh giao thông, làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét. Phong trào bắn máy bay phát triển khá sôi nổi và đạt kết quả. Ở các buôn làng, nương rẫy đều có các tổ trực chiến, trận địa bắn máy bay. Ngoài lực lượng  dân quân du kích còn có những cụ già trên 60 tuổi, thiếu niên, phụ nữ tham gia chiến đấu. Ngày 7 tháng 7 năm 1970, đồng chí K’Vét, du kích xã I (nay là xã Lộc Bắc) đã bắn rơi chiếc máy bay lên thẳng HU 1A, tên trung tướng Ki-Si tư lệnh sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ cùng 6 tên sĩ quan khác đi trên máy bay bị tiêu diệt.

Công tác bố phòng bảo vệ căn cứ, lập vành đai bao vây địch được phát động rộng rãi trong các cơ quan, đơn vị và các xã căn cứ. Ở phía trước và phía sau  xây dựng được 9 tuyến bố phòng, 3 vành đai bao vây địch, trong đó có vành đai bao vây Tân Rai dài 38 km. Trong một thời gian ngắn, nhân dân vùng căn cứ  cắm trên 26 triệu cây chông, đào gần 1.500 hầm chông và bố trí hàng ngàn vũ khí thô sơ khác. Nhờ làm tốt công tác bố phòng nên đã bảo vệ được các cơ quan chỉ đạo của tỉnh và tính mạng, tài sản của nhân dân, làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch vào vùng căn cứ.

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về đời sống, lực lượng  lao động ít, nhưng do yêu cầu của chiến trường, nhân dân vùng căn cứ  thường xuyên thay phiên nhau đi phục vụ phía trước. Thật cảm động biết bao, trong đoàn dân công có cả những cụ già, các em thiếu niên và những chị em phụ nữ địu con phía trước, sau lưng gùi hàng nhưng vẫn bảo đảm ngày công vận chuyển.  Có những lúc các đoàn dân công chỉ ăn bột xà bu[57], củ rừng, dành gạo cho bộ đội ở phía trước đánh địch.

Với thành tích xuất sắc trong phong trào du kích chiến tranh, vùng căn cứ  được tặng thưởng huân chương quân công hạng 3, nhiều đơn vị, cá nhân được biểu dương, khen thưởng. Từ đây, vùng căn cứ  có thêm phong trào thi đua giành “4 nhất” trong thanh niên, “3 đảm đang” của phụ nữ, phấn đấu đảm bảo được 7 khả năng của căn cứ trong tình hình mới[58].

Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Tỉnh ủy chú trọng công tác  xây dựng Đảng trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tháng 2 năm 1969, Tỉnh ủy họp hội nghị chuyên đề về công tác tổ chức để tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện cuộc vận động  xây dựng chi bộ 5 tốt trong cơ quan, chi bộ 3 tốt trong lực lượng  vũ trang, chi bộ 4 tốt ở địa phương và công tác phát triển đảng viên, đoàn viên lớp Hồ Chí Minh. Qua hơn một năm thực hiện Chỉ thị 44 của Trung ương Cục về công tác  xây dựng Đảng bước đầu tạo được sự chuyển biến trong toàn Đảng bộ, năng lực lãnh đạo của chi bộ được nâng lên, cán bộ, đảng viên đã kiên định về lập trường tư tưởng và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác. Trong năm 1969 và 6 tháng đầu năm 1970, toàn tỉnh kết nạp được 312 đảng viên, 291 đoàn viên lớp Hồ Chí Minh, thực lực cách mạng trong vùng địch kiểm soát không ngừng được củng cố và phát triển.

Công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho các cấp, các ngành và địa phương được quan tâm. Tuy còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tỉnh đã mở trường Đảng, trường văn hoá nghiệp vụ chuyên môn ngắn hạn cho cán bộ cơ sở. Vì vậy, đội ngũ cán bộ không ngừng được tăng cường, số cán bộ nữ và cán bộ dân tộc ít người ngày càng đông, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên các mặt công tác.

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang giành được những thắng lợi quan trọng, thì ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đó là nỗi đau thương lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Được tin Bác mất, Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và địa phương tổ chức  trọng thể lễ truy điệu, học tập Di chúc của Người, phát động phong trào thi đua biến đau thương thành hành động cách mạng, góp phần đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà để thoả lòng mong ước của Người.

Trong vùng địch kiểm soát, đồng bào tìm mọi cách lập bàn thờ tưởng niệm Bác, các chùa tổ chức lễ cầu siêu, nhiều cửa hiệu bán hạ giá nhang, đèn trong tuần lễ để tang Bác. Trước những việc làm công khai của quần chúng, bọn ngụy quân, ngụy quyền phải làm ngơ và không dám ngăn cản.

Học tập và thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh, tăng cường đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

2. Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (cũ) lần thứ nhất

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và tiếp tục đưa phong trào cách mạng địa phương phát triển lên một bước mới, từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 7 năm 1970 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ nhất được tổ chức trọng thể tại B’Trú thuộc vùng căn cứ  Bắc của tỉnh. Dự Đại hội có 57 đại biểu thay mặt cho trên 1.000 đảng viên trong tỉnh.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ nhất là một sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng bộ sau 9 năm thành lập. Đại hội đánh giá những thắng lợi to lớn, toàn diện của phong trào cách mạng địa phương và biểu dương công lao to lớn của đồng bào các dân tộc ít người vùng căn cứ, góp phần xứng đáng trong việc  xây dựng và bảo vệ căn cứ ngày càng vững mạnh, là nơi cung cấp sức người, sức của cùng phía trước đánh địch.

Đại hội thông qua Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, đề ra những nhiệm vụ cụ thể trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá,  xây dựng căn cứ… Về công tác  xây dựng Đảng, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Tiếp tục  xây dựng chi bộ 4 tốt, đẩy mạnh phát triển đảng viên, đoàn viên đều khắp ở 3 vùng, nhất là vùng yếu, vùng ven và trong nội thị. Nhanh chóng hình thành cơ sở Đảng ở các địa bàn xung yếu quan trọng. Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên…[59]

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 9 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết, Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Xuân Du làm Bí thư Tỉnh ủy.

Sau Đại hội, Tỉnh ủy tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cơ quan, đơn vị để học tập Nghị quyết Đại hội, tiếp tục quán triệt thêm tinh thần Nghị quyết 9 của Trung ương Cục. Yêu cầu của đợt sinh hoạt chính trị lần này là phải tạo được sự chuyển biến về nhận thức và hành động trong mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, phấn đấu thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Đại hội đề ra.

Từ giữa năm 1970, sau khi tiến hành chương trình “bình định cấp tốc” bị thất bại, Mỹ-nguỵ chuyển sang thực hiện chương trình “bình định đặc biệt”. Lực lựơng quân Mỹ làm lá chắn bên trong, kế hoạch bình định được tổ chức với quy mô lớn và toàn diện hơn.

Ở Lâm Đồng, địch mở các chiến dịch “Phượng Hoàng”, “Đồng tiến”, “Vì dân”, tổ chức các cuộc hành quân “đại bàng”, “đại phong” nhằm đánh phá ta trên cả 3 vùng, 3 tuyến. Trên các tuyến đường hành lang, vùng bàn đạp, dọc đường 20 và ven ấp, chúng gài mìn thành từng bãi, từng tuyến nhằm ngăn chặn lực lượng  ta từ bên ngoài đột nhập vào ấp và cắt đứt sự liên lạc, tiếp tế của quần chúng bên trong đối với lực lượng bên ngoài. Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1970, địch tổ chức nhiều cuộc hành quân hỗn hợp gồm lực lượng cộng hoà, bảo an, cảnh sát, dân vệ vào các khu vực từ Trảng Bia, Kim Anh, Tân Lạc đến cầu Đại Nga, Thanh Xuân nhằm ngăn chặn các  hoạt động của ta, củng cố lại bộ máy kèm tại chỗ và đánh phá cơ sở cách mạng bên trong. Đi đôi với các  hoạt động trên, địch ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, ráo riết bắt lính, đôn quân, lập nhiều đơn vị mới để thay thế dần quân Mỹ, lập phân chi cảnh sát và ủy ban “Phượng Hoàng” xã, ấp.

Những âm mưu và  hoạt động của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất ở một số địa bàn, nhưng mặt khác, ta chưa kịp thời đánh giá đúng tình hình để chuyển phương châm, phương thức  hoạt động phù hợp hơn, chưa đẩy mạnh  hoạt động vũ trang để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị phát triển.

Sau khi quán triệt Chỉ thị 01/71 của Thường vụ Trung ương Cục về nhiệm vụ đánh phá kế hoạch bình định của địch và Nghị quyết Hội nghị Khu ủy lần thứ 14, Tỉnh ủy Lâm Đồng ra Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới và nhiệm vụ cụ thể từng địa bàn.

Trong năm 1971, quân và dân tỉnh Lâm Đồng đã triển khai thực hiện bước một kế hoạch đánh phá bình định, phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ mà Nghị quyết Tỉnh ủy đề ra.

Về  hoạt động quân sự, lực lượng vũ trang đánh địch 217 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên (có gần 200 tên Mỹ), bắn rơi 14 máy bay, phá hủy 38 xe quân sự. Tuy số lượng địch bị diệt chưa nhiều nhưng đã có những trận đánh ở thị xã, thị trấn đạt hiệu quả tốt, đánh trúng đối tượng kèm ở nông thôn. Các đơn vị vũ trang, đội công tác đột nhập 217 lần vào 41 ấp, sở, tập hợp được gần 9.000 lượt người để tuyên truyền chính sách của Đảng và Mặt trận.

Tiêu biểu cho phong trào thi đua trong lực lượng  vũ trang tỉnh Lâm Đồng là đơn vị nữ pháo binh 8/3. Hơn hai năm  xây dựng và trưởng thành, đơn vị đã đánh địch 50 trận, tiêu diệt gần 300 tên Mỹ-nguỵ, phá hủy 50 xe quân sự, một máy bay L.19. Đơn vị được tặng thưởng huân chương chiến công hạng 3; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ giải phóng Miền Nam tặng cờ luân lưu; 80 lượt cán bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt ngụy”. Chiến công của đơn vị gắn liền với chiến công của anh hùng liệt sĩ Lê Thị Pha, thiếu úy, chính trị viên đơn vị. Tháng 5 năm 1971, theo yêu cầu nhiệm vụ mới, đơn vị phân tán lực lượng  để bổ sung vào các đội công tác, làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng bên trong vùng địch kiểm soát.

Phong trào đấu tranh chính trị trong năm 1971 đã có 94 cuộc đấu tranh với gần 15.000 lượt người tham gia. Nội dung chủ yếu của các cuộc đấu tranh là đòi dân sinh dân chủ, đòi tự do đi lại làm ăn, đòi bồi thường thiệt hại, chống bắt lính. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của 3.000 đồng bào thị xã B’Lao từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 5 năm 1971, trong tháng 9 năm 1971, đồng bào ở Đồng Lạc, Đạ Dòn tổ chức 15 cuộc đấu tranh buộc địch phải phá 3 lô cốt, nhận bồi thường thiệt hại tính mạng và tài sản do chúng gây ra, đồng bào được tự do đi lại làm ăn.

Kết hợp với đấu tranh chính trị, công tác binh vận đã thuyết phục, giáo dục được 204 gia đình nguỵ quân, ngụy quyền, phân phát hàng ngàn truyền đơn và bản chính sách của Mặt trận, kêu gọi binh lính bỏ ngũ về nhà làm ăn, kết quả có 265 binh lính đào rã ngũ, 451 dân vệ trả súng.

Những kết quả đạt được qua một năm thực hiện nhiệm vụ đánh phá bình định đã đưa phong trào cách mạng trong vùng địch kiểm soát phát triển lên một bước, thực lực cách mạng tại chỗ có 14 chi bộ với 96 đảng viên (chưa kể số đảng viên  hoạt động đơn tuyến) 5 chi đoàn với 42 đoàn viên, 78 du kích mật, trên 670 cơ sở cách mạng.

Ở vùng căn cứ, cuộc vận động thực hiện 5 phong trào thi đua ngày càng thu được kết quả tốt, đồng bào tham gia các phong trào với khí thế sôi nổi, thể hiện quyết tâm  xây dựng vùng căn cứ  vững mạnh. Lực lượng dân quân du kích đánh địch 48 trận, diệt 287 tên, bắn rơi 13 máy bay. Phong trào tăng gia sản xuất có nhiều chuyển biến mới, đồng bào được hướng dẫn kỹ thuật canh tác, trồng xen canh gối vụ nên năng suất tăng lên nhiều. Đồng bào còn tham gia phục vụ phía trước gần 10.000 ngày công, truy lùng biệt kích và cắm thêm 1,3 triệu cây chông trên các tuyến bố phòng.

Về công tác  xây dựng Đảng, toàn Đảng bộ tiếp tục thực hiện cuộc vận động  xây dựng chi bộ 4 tốt, rèn luyện phấn đấu trở thành đảng viên 4 tốt. Qua các đợt bình xét, Tỉnh ủy kịp thời uốn nắn những mặt còn yếu nhằm thực hiện tốt những yêu cầu và nội dung cuộc vận động.

Giữa năm 1971, sau khi giải thể khu 10, để thống nhất sự chỉ đạo và mở rộng vùng căn cứ  liên hoàn, Trung ương Cục quyết định giao phía Nam tỉnh Quảng Đức về tỉnh Lâm Đồng, bao gồm 2 huyện Khiêm Đức, Kiến Đức với 25.000 dân, 9 đồng chí Tỉnh ủy viên và Bí thư Ban cán sự 2 huyện được bổ sung vào Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh.

Từ giữa năm 1971, Mỹ-nguỵ chuyển sang kế hoạch “bình định phát triển” với nội dung tự vệ, tự quản, tự túc. Trên khắp 3 vùng chúng đều bị ta tấn công, lực lượng ngày càng bị tiêu hao, tinh thần ngày càng bị sa sút nghiêm trọng, bộ máy kèm ở cơ sở kém hiệu lực.

Ở Lâm Đồng, sau khi quân Mỹ rút khỏi địa phương, quân ngụy mất hẳn chỗ dựa nên càng tỏ ra hoang mang lo sợ, chúng thay đổi thủ đoạn  hoạt động nhằm ngăn chặn lực lượng  ta từ bên ngoài vào và khủng bố phong trào quần chúng  bên trong. Ở các xã, địch thành lập cuộc cảnh sát, quân sự hoá và cảnh sát hoá bộ máy kèm ở cơ sở bằng cách tăng cường bọn sĩ quan quân đội hoặc cảnh sát xuống nắm những chức vụ chủ chốt trong bộ máy kèm, mở rộng mạng lưới tình báo nhân dân để theo dõi  hoạt động của ta.

Quán triệt các Nghị quyết của Đảng về tình hình nhiệm vụ và chủ trương của Bộ chính trị mở cuộc tiến công chiến lược 1972, tháng 1 năm 1972 Tỉnh ủy họp để kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ của địa phương trong thời gian trước mắt. Tỉnh ủy tiến hành rà soát lại tình hình và thực lực ở các địa bàn, tăng cường cán bộ xuống các địa bàn trọng điểm. Các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở củng cố và kiện toàn tổ chức, bảo đảm lãnh đạo toàn diện các hoạt động theo phương thức “chiến dịch tổng hợp”.

Trong năm 1972, phong trào cách mạng ở địa phương vẫn giữ thế chủ động tấn công địch, góp phần cùng các địa phương trong khu và toàn miền thực hiện được quyết tâm chiến lược của Đảng.

Về  hoạt động quân sự, lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh địch 321 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.500 tên, phá hủy 45 xe quân sự, đột ấp diệt ác phá kèm đưa 17 ấp với 7.500 dân lên thế làm chủ.

Phong trào đấu tranh chính trị có trên 20.000 lượt người tham gia 121 cuộc đấu tranh trong đó có 21 cuộc nhân dân kéo lên tỉnh, huyện đưa yêu sách. Nổi bật nhất là những cuộc đấu tranh của đồng bào các ấp Đạ Dòn, Đồng Lạc, ấp 16, 17. Đồng bào các dân tộc ít người nhiều lần đấu tranh đòi bỏ khu tập trung trở về buôn làng cũ làm ăn.

Các  hoạt động quân sự và phong trào đấu tranh chính trị đã có tác động lớn đối với công tác binh vận. Qua tuyên truyền vận động, có 5 trung đội dân vệ đào ngũ, 761 binh lính đào rã ngũ.

Ở vùng căn cứ, 5 phong trào thi đua vẫn được đẩy mạnh, nhất là các phong trào tăng gia sản xuất, du kích chiến tranh và phục vụ phía trước. Lực lượng dân quân du kích và đồng bào căn cứ tiếp tục củng cố các tuyến bố phòng và các tuyến vành đai bao vây địch, tổ chức 5 trận đánh địch càn quét và 72 lần truy lùng biệt kích, thám báo. Vùng căn cứ đã cơ bản giải quyết nhu cầu lương thực và có dự trữ, đồng bào K1, vùng 3 đóng đảm phụ và bán 4.537 xá lúa (tương đương  100 tấn) cho cách mạng. Theo yêu cầu của tỉnh và khu, đồng bào căn cứ tham gia 16.436 ngày công, vận chuyển 27.858 kg hàng phục vụ các đơn vị phía trước.

Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng, đầu năm 1972, Tỉnh ủy triển khai thực hiện Chỉ thị 07/71 của Trung ương Cục và Chỉ thị 44 của Khu ủy về công tác  xây dựng Đảng. Qua một năm thực hiện, toàn Đảng bộ có bước chuyển biến mới trong công tác  xây dựng Đảng. Các chi bộ cơ quan và vùng căn cứ  giữ được nề nếp sinh hoạt, lãnh đạo quần chúng thực hiện tốt Nghị quyết của chi bộ, nhất là việc thực hiện 5 phong trào thi đua ở vùng căn cứ. Các chi bộ trong vùng địch kiểm soát từng bước nâng cao trình độ và năng lực lãnh đạo của một số mặt công tác, thông qua việc phát triển thực lực cách mạng tại chỗ để lãnh đạo quần chúng  đấu tranh chống địch. Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng  nên trong năm 1972 đã phát triển được 722 cơ sở cách mạng, trong đó có 19 đảng viên, 27 đoàn viên.

Những tháng cuối năm 1972, sau khi lật lọng trì hoãn việc ký Hiệp định Pari, đế quốc Mỹ tiếp tục gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân ta, tranh thủ thời gian đưa thêm vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam. Trong khi đó, quân ngụy tập trung lực lượng  tiến hành các chiến dịch nhằm giành dân, chiếm đất, đối phó với các cuộc tấn công của ta và ngăn chặn quần chúng  nổi dậy trước khi có Hiệp định Pari.

Ở Lâm Đồng, địch củng cố các chi khu, phân chi khu, cuộc cảnh sát và lập thêm nhiều đồn bốt. Trên đường 20 bố trí hai tiểu đoàn chốt giữ từ Di Linh đến An Lạc và khu vực km 142 nhằm cắt đứt hành lang liên lạc giữa vùng căn cứ  Nam và căn cứ Bắc của ta. Với âm mưu giành dân chiếm đất, chúng đưa dân đến lấn chiếm vùng Tân Rai, đưa dân các nơi khác đến định cư dọc đường 20.

Chấp hành Chỉ thị 01/CT/73 của Trung ương Cục về tình hình nhiệm vụ mới, đẩy mạnh  hoạt động nhằm đánh bại âm mưu giành dân chiếm đất của địch trước khi có Hiệp định Pari, Tỉnh ủy Lâm Đồng chủ trương đưa phần lớn lực lượng  vũ trang, dân quân du kích và các cơ quan tỉnh, huyện ra phía trước phối hợp  hoạt động theo “kế hoạch thời cơ”. Trước khi có Hiệp định Pari, quân và dân trong tỉnh đẩy mạnh  hoạt động trên các địa bàn, đánh địch 63 trận, diệt 212 tên, bắn rơi 6 máy bay, phá hủy 43 xe quân sự. Ta đã làm chủ hoàn toàn 8 ấp, 3 sở, đồn điền và 7 đoạn trên đường 20, đường 14 làm gián đoạn giao thông, âm mưu giành dân chiếm đất của địch bị thất bại. Với thắng lợi đó, quân và dân trong tỉnh không những giữ vững và mở rộng thêm vùng giải phóng mà còn tạo thế tấn công địch sau khi Hiệp định Pa ri được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, góp phần cùng toàn miền Nam từng bước đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

II. Đảng bộ Tuyên Đức nêu cao quyết tâm giữ vững thế tiến công chiến lược, đẩy mạnh phong trào thị xã Đà Lạt

1. Tiếp tục tấn công tiêu diệt địch, đưa phong trào địa phương lên một bước mới (từ đầu 1969 đến tháng 6 năm 1970)

Thắng lợi của quân và dân trong tỉnh giành được trong các cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 đã đưa phong trào cách mạng địa phương phát triển lên một bước mới, làm thất bại âm mưu và hành động của địch, đẩy chúng vào thế phòng ngự, bị động đối phó. Sau khi thực hiện chiến lược “quét và giữ”, Mỹ-nguỵ chuyển sang chương trình bình định thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”.

Từ năm 1969, địch tiếp tục dồn dân ở những vùng nông thôn xa đường giao thông, xa đồn bốt vào các khu tập trung để dễ kiểm soát và cắt đứt liên lạc giữa lực lượng  ta ở bên ngoài với cơ sở cách mạng bên trong. Chúng đưa lực lượng  bảo an, các đoàn bình định xuống các ấp để củng cố bộ máy kèm đã bị suy yếu,  hoạt động kém hiệu lực; đồng thời thành lập các tổ chức phản động, phát triển điệp ngầm bí mật theo dõi  hoạt động của ta và đánh phá cơ sở cách mạng bên trong. Trong năm 1969, địch tiến hành bình định có trọng điểm các xã Xuân Trường, Xuân Thọ trên đường 11, xã Hiệp Thạnh trên đường 20, các ấp Lạc Xuân, Lạc Bình trên đường 21, Quảng Hiệp, Nghĩa Hiệp ở phía Nam sông Đa Nhim và các ấp Gia Thạnh, Côi Ya, Ngọc Sơn, Lạc Sơn trên đường 21 kéo dài. Đó là những địa bàn ta đã đưa lên làm chủ và tranh chấp mạnh. Toàn bộ số dân vùng K67 bị địch dồn vào các khu tập trung Ka Đơn, Ka Đô, P’Ró. Chúng còn đưa bọn thám báo, biệt kích bí mật luồn sâu vào vùng bàn đạp, hậu cứ của ta rồi bất ngờ tập kích các cơ quan đơn vị, kho tàng gây cho ta nhiều tổn thất.

Qua một năm tập trung lực lượng  của các cơ quan đơn vị  hoạt động ở phía trước, nên mùa rẫy năm 1968 ta không sản xuất được lương thực. Cuối năm 1968, các cơ quan của tỉnh và một số đơn vị chuyển sang phía Đông Nam huyện Đơn Dương giáp với căn cứ phía Tây tỉnh Ninh Thuận để giải quyết khó khăn về lương thực.

Tháng 12 năm 1968, Tỉnh ủy họp kiểm điểm đánh giá tình hình phong trào cách mạng địa phương trong năm 1968 và đề ra phương hướng nhiệm vụ của địa phương trong Đông Xuân 1968-1969. Nhiệm vụ trọng tâm là giữ cho được số dân mới giải phóng và số dân đã đưa lên làm chủ, đồng thời mở thêm các hướng sát trục giao thông. Để phát huy được hiệu quả chiến đấu và giữ gìn lực lượng, Tỉnh ủy chủ trương đặc công hoá lực lượng vũ trang và các đội công tác để đánh địch có hiệu quả hơn.

Thực hiện Nghị quyết Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang trong tỉnh ra sức khắc phục khó khăn, liên tục  hoạt động đánh địch trên các địa bàn. Ở thị xã Đà Lạt, các đội biệt động tập kích cư xá Lam Sơn diệt 40 tên địch, diệt gọn 2 đại đội chốt giữ phía Tây thị xã. Ở huyện Đơn Dương, tiểu đoàn 145 tập kích cứ điểm M’Lọn và đánh bọn địch đến chi viện diệt 130 tên, đại đội 815 đánh địch đóng dã ngoại ở Suối Thông B diệt 100 tên. Trên địa bàn Đức Trọng, Lạc Dương, tiểu đoàn 810, đại đội 870 và các đội công tác đánh địch trên đường 20, đường 11, pháo kích chi khu Đức Trọng, đánh đồn Định An. Trong đợt  hoạt động Đông Xuân 1968-1969, quân và dân trong tỉnh đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.000 tên địch, phá hủy 18 xe quân sự, 8 máy bay, 7 kho súng đạn, đốt cháy 2 triệu lít xăng.

Tháng 4 năm 1969, Tỉnh ủy họp đánh giá những thắng lợi đã giành được, đồng thời chỉ ra những mặt còn yếu trong  hoạt động quân sự là chưa có những trận đánh lớn, đánh chưa gọn, đánh đối tượng kèm và diệt ác còn ít, chưa giữ được dân nên để số dân vùng K67, Nam Ban, Hoạt, Riông Tô bị địch dồn về các khu tập trung, ấp chiến lược. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới là: Phải giành về ta vùng ven thị xã, vùng yếu nông thôn, mở rộng địa bàn nông thôn và chuyển phong trào thị xã lên một bước, gấp rút  xây dựng lực lượng  ta lớn mạnh về mọi mặt.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên, Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Lực lượng vũ trang trong tỉnh khẩn trương củng cố lực lượng, thay đổi phương thức  hoạt động cho phù hợp với tình hình địa phương. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện, các đội công tác học tập kỹ chiến thuật của bộ đội đặc công, công tác vũ trang tuyên truyền và  xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát. Các đơn vị đặc công biệt động được bồi dưỡng về phương thức  hoạt động, học tập những cách đánh hay, những trận đánh giỏi của các địa phương khác nhằm nâng cao hiệu quả chiến đấu.

Qua học tập, lực lượng  vũ trang trong tỉnh đã nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, liên tục  hoạt động tấn công địch, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh. Ở thị xã Đà Lạt, các đơn vị phối hợp tập kích nhiều vị trí quan trọng như: Trường Võ bị, Đại học chính trị, sân bay Cam Ly, khu cư xá Mỹ. Đặc biệt là hai trận tập kích của Tiểu đoàn 810 vào trường cảnh sát dã chiến đêm 7 tháng 9 năm 1969 diệt gần 600 tên và trường Cảnh sát cơ  bản đêm 7 tháng 12 năm 1969 diệt 500 tên, phá hủy nhiều nhà cửa, lô cốt và phương tiện chiến tranh của địch ở vùng nông thôn, tiểu đoàn 145 và các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện phối hợp đánh chi khu Đức Trọng, sân bay Liên Khương, các đồn Quảng Hiệp, Nghĩa Lâm, Kim Phát, đánh lực lượng  kèm ở các ấp Ka Đô, Nghĩa Hiệp, Suối Thông B. Nhiều đoàn bảo an xuống các ấp hỗ trợ bộ máy kèm bị ta tấn công tiêu diệt, các đoàn “bình định” tăng cường cho xã, ấp chỉ dám  hoạt động ban ngày, ban đêm phải rút về các đồn bốt, thị trấn. Các đơn vị vừa đột ấp diệt ác phá kèm, vừa kết hợp vũ trang tuyên truyền, một số ấp trước đây không vào được, nay đột nhập có kết quả như Phú Hội, Phú Thạnh, thị trấn Tùng Nghĩa… Trong năm 1969, lực lượng vũ trang  trong tỉnh đánh địch 266 trận, đột ấp 120 lần, loại khỏi vòng chiến đấu 995 tên.

Thắng lợi về  hoạt động quân sự của ta đã làm cho tinh thần ngụy quân, ngụy quyền ngày càng sa sút nghiêm trọng. Nhiều gia đình nguỵ quân sau khi được ta tuyên truyền, giáo dục đã viết thư gọi con em trở về nhà làm ăn. Trong năm 1969 có 1.150 lính bảo an, dân vệ và 3 trung đội phòng vệ dân sự đào rã ngũ.

Phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương tuy chưa có những cuộc đấu tranh lớn, nhưng ở nhiều nơi đã có những cuộc đấu tranh chống bắt lính, làm cho địch không thực hiện được những âm mưu và kế hoạch đề ra. Ngày 23 tháng 4 năm 1969, lực lượng  biệt động đánh mìn tại khách sạn Ngọc Lan gây cho bọn địch càng hoang mang, lo sợ.

Song song với việc chỉ đạo phong trào ở phía trước, Tỉnh ủy chú trọng công tác  xây dựng Đảng và công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đến tháng 6 năm 1969, toàn Đảng bộ đã triển khai kế hoạch thực hiện Chỉ thị 41 của Trung ương Cục về công tác  xây dựng Đảng. Các chi bộ trong vùng địch kiểm soát vừa lãnh đạo quần chúng  tấn công địch bằng ba mũi, vừa  xây dựng thực lực cách mạng tại chỗ để làm nòng cốt cho phong trào.

Về công tác phát triển Đảng, Tỉnh ủy tập trung vào những thành phần cơ bản và các địa bàn quan trọng. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 1969, toàn tỉnh kết nạp 152 đảng viên lớp Hồ Chí Minh, trong đó có 76 đảng viên ở các xã, phường (riêng thị xã Đà Lạt kết nạp được 48 đảng viên). Công tác phát triển Đảng được chỉ đạo chặt chẽ, có phương hướng và kế hoạch cụ thể nên vừa bảo đảm số lượng, vừa nâng cao chất lượng.

Thực hiện Chỉ thị 136 của Trung ương Cục và Nghị quyết Hội nghị Khu ủy (tháng 1 năm 1970) về nhiệm vụ trong thời gian trước mắt, đặc biệt là trong đợt  hoạt động Xuân -Hè (lấy tên là đợt TK), Tỉnh ủy Tuyên Đức xác định quyết tâm: đẩy mạnh  hoạt động quân sự chính trị nhằm mở rộng vùng làm chủ ở nông thôn và đưa phong trào thị xã Đà Lạt phát triển lên một bước. Để tiện việc chỉ đạo huyện trọng điểm Đức Trọng và thị xã Đà Lạt, các cơ quan của tỉnh lại chuyển hậu cứ về địa bàn huyện Đức Trọng.

Bước vào Xuân-Hè 1970, Khu ủy 6 sát nhập K67 vào huyện Đơn Dương, chọn tỉnh Tuyên Đức làm trọng điểm trong đợt  hoạt động. Quân khu điều tiểu đoàn đặc công 200C lên phối hợp với tiểu đoàn 145 và lực lượng  vũ trang tỉnh để tấn công tiêu diệt địch. Tháng 1 năm 1970, tiểu đoàn 200C tập kích chi khu Đơn Dương; diệt 200 tên địch; tiểu đoàn 145 đánh sân bay Liên Khương và các đồn Kim Phát, Xê Ri Nhắc. Ở Đà Lạt, tiểu đoàn 810 pháo kích vào tiểu khu, sân bay Cam Ly; các đội biệt động, du kích mật tập kích trường Đại học chính trị, diệt gần 200 tên (phần lớn là sĩ quan) và đánh vào trung tâm vô tuyến viễn thông, phá huỷ 16 máy vô tuyến điện.

Đầu tháng 5 năm 1970, ngụy quyền Sài Gòn cử một phái đoàn quân sự lên Tuyên Đức để nghiên cứu tình hình và triển khai kế hoạch đối phó với các  hoạt động của ta. Tại các cứ điểm và những vị trí quan trọng, chúng tăng cường thêm vật chướng ngại, hệ thống ánh sáng bảo vệ xung quanh. Ở vòng ngoài, địch đưa lực lượng  bảo an, dân vệ ra phục kích các hướng ta thường đột nhập. Nhưng mọi âm mưu và thủ đoạn của địch vẫn không xoay chuyển được tình hình, càng làm tăng thêm sự căng thẳng, lo sợ cho bọn ngụy quân, ngụy quyền.

Chấp hành mệnh lệnh của Miền, Quân khu 6 mở đợt  hoạt động trên một diện rộng để phối hợp với các chiến trường. Quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ Quân khu giao cho địa phương, Tỉnh ủy chỉ đạo các đơn vị vũ trang khẩn trương chuẩn bị lực lượng, triển khai phương án chiến đấu. Cuối tháng 5 năm 1970, chiến dịch TK[60] tấn công vào Đà Lạt được thực hiện trên ba hướng:

Ở hướng chủ yếu, từ phía Đông Bắc đánh vào trường Võ Bị, Trung tâm vô tuyến viễn thông, Lữ quán thanh niên, dinh Thị trưởng, Tỉnh đoàn bảo an.

Trên hướng thứ yếu 1, từ phía Nam đánh vào dinh 2, trại Cao Thắng, trận địa pháo Tân Lạc.

Hướng thứ yếu 2, từ phía Tây Bắc đánh chiếm lãnh địa Đức Bà, Đa Cát, đồi Đất Đỏ.

Riêng 2 đại đội của tiểu đoàn 145 bố trí đoạn đèo Pren đánh địch đến chi viện cho Đà Lạt.

Đúng 18 giờ ngày 28 tháng 5 năm 1970, các đơn vị đồng loạt nổ súng tấn công địch trên 3 hướng. Ở hướng chủ yếu, các đơn vị chia làm ba mũi đánh chiếm các mục tiêu đã định: Mũi một đánh vào trường Võ Bị nhưng không dứt điểm, sáng ngày 29 tháng 5 phải rút ra ngoài. Mũi hai đứng ở ấp Đa Thiện dùng súng cối, đại liên bắn yểm trợ cho mũi 3, còn mũi thứ 3 thọc sâu đánh các mục tiêu bên trong rồi chiếm giữ khu vực Giáo hoàng chủng viện, đánh địch phản kích suốt ngày 29 tháng 5, diệt một đại đội địch và tiêu hao 2 đại đội khác. Tối ngày 30 tháng 5 mới  chuyển ra ấp Đa Thiện cùng với mũi 2 đánh địch phản kích. Sáng ngày 31 tháng 5 lực lượng  ta mới rút ra khỏi thị xã.

Ở hướng thứ yếu 1, các đơn vị đánh vào dinh 2 và trại Cao Thắng nhưng không dứt điểm, phải rút ra ngoài dùng hỏa lực bắn vào trận địa pháo Tân Lạc. Tại đèo Pren, hai đại đội của tiểu đoàn 145 đánh địch đến chi viện, diệt một đại đội, phá hủy 3 xe quân sự.

Ở hướng thứ yếu 2, mũi 1 vào khu vực đồi Đất Đỏ bị địch ném bom, phản kích ác liệt nên phải rút ra, mũi 2 trụ lại lãnh địa Đức Bà đánh lui 8 đợt phản kích của địch, diệt gọn 1 đại đội, đánh thiệt hại nặng một đại đội khác, đến tối 29 tháng 5 rút ra ngoài.

Phối hợp với các hướng tiến công, du kích mật đánh mìn nhiều vị trí trong thị xã, tiêu diệt một số sinh lực địch. Được sự hướng dẫn của cơ sở cách mạng tại chỗ, nhân dân ở 10 ấp đã nổi dậy phối hợp; vừa cùng bộ đội truy kích địch, diệt ác ôn, giải trang phòng vệ dân sự, tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội, vừa dựng vật chướng ngại trên đường phố, phá trụ sở ngụy quyền, kêu gọi dân vệ, phòng vệ dân sự bỏ súng.

Trong chiến dịch TK, các đơn vị tiến công 23 mục tiêu, diệt gần 1.000 tên địch, phá hủy 17 xe quân sự, 7 khẩu pháo, phần lớn bộ máy kèm, tề điệp bị tiêu diệt hoặc tan rã. Tuy lực lượng  ta có ít hơn so với cuộc tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968, nhưng các đơn vị đều đánh theo chiến thuật đặc công, có quyết tâm cao, có kinh nghiệm trong chỉ huy và hợp đồng chiến đấu, phối hợp được giữa tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng  nên giành được thắng lợi lớn.

Chiến dịch TK không những có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của cách mạng địa phương mà còn có ảnh hưởng đến các địa phương trong Khu và toàn Miền. Trong lúc Mỹ-nguỵ đang rêu rao là đã đánh bật chủ lực “Việt cộng” ra khỏi các trung tâm đô thị, thì ở Đà Lạt quân và dân ta tiến công nhiều vị trí quan trọng và trụ lại ngay tại sào huyệt của chúng. Dư luận thế giới ca ngợi thắng lợi và ý nghĩa to lớn của chiến dịch. Báo Thế giới (Pháp) cho rằng “diễn biến và kết quả cuộc tiến công Đà Lạt là một thí dụ nổi bật nhất từ trước đến nay của sự phối hợp hành động giữa những bộ phận tiến công từ bên ngoài và những bộ phận đã xâm nhập vào bên trong thành phố”. Tờ Nhân đạo (Pháp) viết “chiến công Đà Lạt nhắc nhở bọn ngụy quyền Sài Gòn biết tình thế của chúng núp dưới bóng quan thầy Mỹ là mỏng manh biết chừng nào”.

Cùng với  hoạt động vũ trang, phát triển đấu tranh chính trị ở Đà Lạt đã có nhiều cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, chống khủng bố đàn áp, chống bắt lính. Hưởng ứng phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn và các thành thị ở miền Nam, ngày 26 tháng 4 năm 1970 hơn 700 sinh viên Viện Đại học Đà Lạt tổ chức hội thảo, bãi khoá để phản đối chính quyền Sài Gòn đàn áp học sinh sinh viên, đòi quyền tự trị đại học, lên án Mỹ-nguỵ cùng chính quyền Lon Non đàn áp Việt kiều ở Campuchia. Tháng 7 năm 1970 sinh viên lại đấu tranh chống chủ trương “quân sự hoá học đường” của Mỹ-nguỵ. Lực lượng đấu tranh kéo đến phòng huấn luyện quân sự học đường đuổi 6 tên sĩ quan nguỵ, gỡ bảng hiệu treo trước phòng, đốt toàn bộ hồ sơ và một hình nộm mang quân phục “quân sự học đường”.

Từ cuộc tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968 đến giữ năm 1970, phong trào cách mạng ở Tuyên Đức tiếp tục giữ vững thế tiến công, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Phong trào tại thị xã Đà Lạt đã có bước chuyển biến mới kết hợp được hai chân ba mũi, đánh địch ngay tại sào huyệt của chúng.

Tuy nhiên, phong trào phát triển chưa đều trên các địa bàn, chưa phá được âm mưu và thủ đoạn của địch, phong trào đấu tranh chính trị, công tác binh vận chưa đều, chưa mạnh, thực lực cách mạng tại chỗ phát triển chậm, lực lượng  du kích mật ở nông thôn  hoạt động yếu. Trong khi đó, lực lượng vũ trang  bị tổn thất chưa được bổ sung, lương thực thường xuyên gặp khó khăn nên ảnh hưởng đến  hoạt động của các đơn vị và sự phát triển của phong trào cách mạng địa phương.

2. Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Đức lần thứ nhất

Giữa lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh vừa giành được thắng lợi trong đợt  hoạt động Xuân -Hè 1970. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Đức lần thứ nhất được tiến hành trọng thể từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 7 năm 1970. Về dự Đại hội là những đại biểu ưu tú thay mặt cho gần 1.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với phong trào cách mạng địa phương trong 9 năm qua, biểu dương những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân đã giành được nhất là từ cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 đến giữa năm 1970.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch, ta ở địa phương, Đại hội ra Nghị quyết xác định phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới là: “Tích cực đẩy mạnh tấn công vũ trang, chính trị, binh vận của tất cả các lực lượng  bên trong và bên ngoài, ở cả thành phố và nông thôn nhằm diệt và làm tan rã đại bộ phận lực lượng  ngụy quân, làm suy yếu và làm giảm hiệu lực nguỵ quyền bên trên, đánh sụp đại bộ phận ngụy quyền cơ sở. Nhiệm vụ trọng tâm là đánh phá bình định, phá ấp phá kèm, giành dân mở vùng nhằm làm thất bại về cơ bản âm mưu bình định của địch”[61]. Đại hội thông qua yêu cầu nhiệm vụ cụ thể 5 công tác chính là: công tác quân sự; công tác dân vận; công tác vùng ven, vùng yếu; công tác đô thị và công tác tư tưởng, tổ chức.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 11 ủy viên, đồng chí Huỳnh Minh Nhựt được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy.

Sau Đại hội, Tỉnh ủy tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cơ quan, đơn vị để quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ, tiếp tục quán triệt tinh thần Nghị quyết 9 của Trung ương Cục, khẩn trương củng cố lực lượng  và chuẩn bị bước vào đợt  hoạt động mới.

Từ sau  chiến dịch TK tấn công vào Đà Lạt của quân và dân ta, quân địch ở Tuyên Đức tiến hành nhiều âm mưu, thủ đoạn mới nhằm đối phó với các  hoạt động của ta và đánh phá phong trào cách mạng bên trong. Để tăng cường lực lượng  cho quân ngụy ở Tuyên Đức, địch đưa 3 tiểu đoàn bộ binh và một chi đội xe bọc thép đến phối hợp mở chiến dịch “Nguyễn Trãi”, càn quét khu vực Tây Nam Đà Lạt, khu tam giác và dọc các đường giao thông quan trọng. Ở vùng nông thôn, địch tiến hành bình định có trọng điểm, sau đó mở rộng các vùng xung quanh theo phương thức vết dầu loang, tăng cường gài mìn và phục kích ven ấp, trang bị thêm vũ khí cho bọn phòng vệ dân sự. Xung quanh Đà Lạt chúng bố trí 3 tuyến mìn ở phía Tây Nam và Tây Bắc để ngăn chặn lực lượng  ta từ bên ngoài đột nhập vào trong thị xã.

Hoạt động của địch trong những tháng cuối năm 1970 đã gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất. Trên các tuyến hành lang, bàn đạp, địch đánh phá mạnh nên việc vận chuyển lương thực, vũ khí gặp nhiều khó khăn. Nhiều cơ sở sản xuất của các cơ quan đơn vị bị địch phá hoại nên thu hoạch không đáng kể. Ở thị xã Đà Lạt và các ấp vùng nông thôn bị địch khống chế, kiểm soát chặt chẽ nên nhân dân không tiếp tế được cho lực lượng  bên ngoài.

Trước tình hình địa phương có nhiều khó khăn ác liệt, Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, đảng viên, chiến sỹ xác định quyết tâm bám địa bàn, bám quần chúng  để giữ vững phong trào cách mạng.

Trong năm 1970, lực lượng  vũ trang trong tỉnh đánh địch 341 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 5.500 tên (có 333 tên Mỹ và chư hầu, 727 tên sĩ quan ngụy), diệt gọn 8 đại đội, 10 trung đội, tiêu hao nặng 7 đại đội, một đoàn bình định, bắn rơi và phá hủy 17 máy bay, phá hỏng 162 xe quân sự.

Hoạt động quân sự đã có tác động hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau ở các ấp Tự Tạo, Sào Nam, Phước Thành (ngoại ô Đà Lạt), Phú Thuận, Lạc Xuân, Lạc Bình (Đơn Dương), Định An, Quảng Hiệp, Côi Ya, Gia Thạnh (Đức Trọng) và Xuân Sơn, Đất Làng (Xuân Trường) với gần 3.000 dân, đưa lên tranh chấp khoảng 11.000 dân và làm lỏng rã kèm ở 30 ấp với trên 10.000 dân. Ngoài ra còn  xây dựng thêm các lõm chính trị ở các ấp An Hoà, Đa Hoà, Võ Tánh, Đa Cát, Sào Nam, Tây Hồ, Thái Phiên, Đa Phú (Đà Lạt), Định An, (Hiệp Thạnh).

Thực hiện Chỉ thị 01/CT/71 của Trung ương Cục và Nghị quyết hội nghị lần thứ 14 của Khu ủy 6 về nhiệm vụ đánh phá kế hoạch bình định của địch, Hội nghị Tỉnh ủy Tuyên Đức (tháng 3 năm 1971) đề ra nhiệm vụ cho các địa phương trong tình hình mới là quyết tâm giành quyền làm chủ ở ấp, xã, phá rã hệ thống phòng thủ của địch ở nông thôn, mở rộng phong trào đô thị, giữ vững và tăng cường các địa bàn căn cứ, các bàn đạp, hành lang nhằm tạo ra thế và lực mới trên cả 3 vùng.

Trên cơ sở đánh giá tình hình địch, ta và thực lực cách mạng trên các địa bàn, Hội nghị quyết định điều chỉnh, sắp xếp và bố trí lực lượng  vũ trang trong tỉnh cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới. Huyện Đức Trọng có 3 đại đội là 816, 805 và 809, huyện Đơn Dương có 3 đại đội: 815, 814 và 830; thị xã Đà Lạt có 4 đội biệt động; 850, 852, 854 và 860 cùng với hai đại đội 830 và 870; giải thể huyện ủy và huyện đội Lạc Dương, chỉ để lại xã căn cứ và một đội công tác tập trung  xây dựng phong trào ở hai ấp chiến lược Tiêng Liêng và Đa Ra Hoa, còn các xã Xuân Thọ, Xuân Trường, một đội công tác và đại đội 870 giao cho thị xã Đà Lạt; lực lượng  vũ trang tập trung của tỉnh chỉ còn tiểu đoàn 810 và một đại đội  đặc công. Tỉnh ủy chỉ đạo lực lượng  vũ trang tiếp tục huấn luyện và đánh theo chiến thuật của bộ đội đặc công, phát động phong trào rà phá, gỡ mìn địch; lấy mìn địch đánh địch; thực hiện ba bám: bám địch, bám ấp, bám dân.

Từ tháng 3 năm 1971, cả ba thứ quân tập trung vào nhiệm vụ đánh phá kế hoạch bình định, thường xuyên bám sát địa bàn  hoạt động, lập thế đánh địch theo mục tiêu và đối tựơng được phân công. Các đơn vị phối hợp đánh địch tại chi khu Đức Trọng, khu tập trung Dăm Pao, Rơ Lơm, Đồn Khút và quần bám đánh nhỏ, lẻ trên các trục đường giao thông. Trong năm 1971, lực lượng  vũ trang trong tỉnh đánh địch 359 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.300 tên, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh.

Trước tình hình địch tiến hành bình định với nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung đánh phá ác liệt nên phong trào cách mạng địa phương phát triển chậm, thực lực cách mạng tại chỗ yếu, đường hành lang từ các huyện về tỉnh nhiều lần bị cắt đứt, cơ sở chính trị và du kích mật bên trong bị vỡ nhiều. Đến cuối năm 1971, địch kèm kẹp dân chặt hơn trước, vùng làm chủ của ta chỉ còn 763 dân, vùng tranh chấp còn trên 4.200 dân, vùng lỏng rã kèm còn 3.900 dân và vùng căn cứ  huyện Lạc Dương cũng chỉ còn 316 dân.

Tuy vậy, hoạt động quân sự trong năm 1971 vẫn có tác động hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị phát triển. Ở một số vùng nông thôn, cơ sở cách mạng bên trong lãnh đạo quần chúng  đấu tranh, đòi giải quyết đời sống, chống bắt lính. Từ ngày 21 đến 23 tháng 9 năm 1971, đồng bào ở Soan, Cô Hia, Đa Huynh, Phú Hội, Tùng Nghĩa (Đức Trọng) kéo lên quận đòi thả 32 thanh niên bị bắt lính, trước sức mạnh của quần chúng, địch phải thả những người bị bắt. Đồng bào ở Quảng Hiệp, Ka Đô (Đơn Dương) tiến hành ba cuộc đấu tranh đòi địch bồi thường thiệt hại về người và tài sản do chúng gây ra.

Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh chính trị trong năm 1971 là cuộc đấu tranh của hàng ngàn nhân dân Đà Lạt từ 28 tháng 9 đến ngày 31 tháng 10 năm 1971 chống cuộc bầu cử độc diễn của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi phát động cuộc đấu tranh, thị ủy Đà Lạt chỉ đạo cơ sở cốt cán  hoạt động trong các tổ chức công khai hợp pháp như: Mặt trận nhân dân tranh thủ hoà bình, Phong trào phụ nữ đòi quyền sống, Mặt trận bảo vệ văn hoá dân tộc, Đoàn sinh viên phật tử và tổng đoàn học sinh Đà Lạt. Để thống nhất nội dung và chương trình đấu tranh, đêm 27 tháng 9, tại chùa Linh Sơn, học sinh sinh viên tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề “Sinh viên, học sinh trước hiện tình của đất nước” nhằm vạch trần bản chất độc tài phát xít của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi dân sinh dân chủ, đòi hoà bình, chấm dứt chiến tranh.

Sáng ngày 28 tháng 9, Ban lãnh đạo các tổ chức công khai ở Đà Lạt tổ chức cuộc hội thảo “Nhận định về cuộc bầu cử độc diễn ngày 3 tháng 10”. Tham gia cuộc hội thảo còn có đại diện Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình thành phố Sài Gòn, phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn, giáo hội phật giáo và một số ký giả các báo. Những người dự hội thảo phản đối trò hề bầu cử bịp bợm của Mỹ-Thiệu, đốt thẻ cử tri, các bích chương cổ động cuộc bầu cử, thành lập “Uỷ ban nhân dân Đà Lạt-Tuyên Đức chống bầu cử bịp bợm ngày 3 tháng 10” và ra bản tuyên bố chung. Bản tuyên bố lên án cuộc bầu cử độc diễn ngày 3 tháng 10 là một âm mưu của Mỹ nhằm duy trì chế độ độc tài hiếu chiến để thực hiện “Việt Nam hoá chiến tranh”, đòi hủy bỏ cuộc bầu cử, đòi Mỹ rút về nước, trả lại quyền tự quyết cho đồng bào Miền Nam và kêu gọi các tầng lớp nhân dân cùng nhau đoàn kết, hưởng ứng cuộc đấu tranh chống bầu cử, chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Trước trụ sở của Uỷ ban căng nhiều biểu ngữ với nội dung: “Muốn ấm no, lo đuổi Mỹ; muốn độc lập, đập Thiệu -Hương”, “Mỹ-Thiệu còn, chiến tranh còn”…

Tối 28 tháng 9, tại chùa Linh Sơn, khoảng 100 học sinh sinh viên tổ chức đêm không ngủ, hát những bài ca, đọc những bài thơ mang nội dung yêu nước do học sinh, sinh viên miền Nam sáng tác.

Ngày 29 tháng 9, Uỷ ban đấu tranh thành lập 10 tổ xung kích và tổ chức từng toán nhỏ trong học sinh, sinh viên mở chiến dịch “nói với đồng bào”, làm nhiệm vụ rải truyền đơn, căng biểu ngữ, phân phát bản tuyên bố chung ở khu vực chợ và trên các đường phố để vận động nhân dân hưởng ứng cuộc đấu tranh và không đi  bỏ phiếu trong ngày 3 tháng 10.

Từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 3 tháng 10, tại chùa Linh Sơn, lực lượng đấu tranh tổ chức mỗi ngày 3 buổi phát thanh để phản đối trò hề bầu cử bịp bợm của Mỹ-Thiệu, thông báo tình hình đấu tranh, kêu gọi đồng bào không đi bỏ phiếu và hát những bài ca đấu tranh.

Nhằm phá rối chương trình phát thanh của ta, Ty thông tin chiêu hồi nguỵ dùng một số xe phóng thanh lập “đài phát thanh lưu động” gần chùa Linh Sơn. Mặt khác, địch huy động lực lượng cảnh sát dã chiến, một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 23, một chi đội bọc thép M.113, đại đội địa phương quân 302 và bọn “bình định nông thôn”, cảnh sát, mật vụ bao vây khu vực chùa Linh Sơn, đóng chốt ở khu Hoà Bình, chợ Đà Lạt và trên các đường phố để ngăn chặn các đoàn biểu tình.

Ngày 1 tháng 10, lực lượng  đấu tranh mở chiến dịch “xuống đường”, khi đoàn biểu tình đến gần cổng trường Bồ Đề (nay là trường phổ thông cơ sở Nguyễn Du), địch huy động các đơn vị cảnh sát dã chiến chặn đường và dùng lựu đạn cay, dùi cui đàn áp. Sau hơn 2 giờ giằng co quyết liệt, đoàn biểu tình rút vào chùa Linh Sơn.

Sáng ngày 2 tháng 10, Uỷ ban đấu tranh bố trí 2 tổ xung kích đến khu Hòa Bình treo biểu ngữ, đưa một bộ phận nhỏ kéo lên đường Võ Tánh (nay là đường Bùi Thị Xuân) để đánh lạc hướng, còn lực lượng chủ yếu diễu hành trên đường Phan Đình Phùng gỡ các bích chương cổ động bầu cử và dự định kéo về khu Hoà Bình tổ chức mít tinh. Nhưng khi đến rạp Ngọc Hiệp (nay là rạp Giải Phóng), lực lượng cảnh sát dã chiến dàn hàng ngang chặn đường, dùng súng M16 bắn uy hiếp và ném lưu đạn cay vào đoàn biểu tình. Trước sự đàn áp của địch, đoàn biểu tình phải rút về chùa Linh sơn.

Để đối phó với cuộc biểu tình lớn có thể nổ ra, trong ngày 3 tháng 10, địch huy động toàn bộ lực lượng  ở Đà Lạt bao vây chùa Linh Sơn, chặn các con đường vào trung tâm thị xã, làm cho tình hình Đà Lạt hết sức căng thẳng. Tuy lực lượng đấu tranh không tổ chức được cuộc biểu tình, nhưng trong ngày 3 tháng 10, toàn Đà Lạt bãi thị, bãi khoá để phản đối bầu cử, phần lớn nhân dân không đi bỏ phiếu. Những người bị bắt buộc đi bầu cử đã tìm cách làm cho phiếu không hợp lệ. Trong 47 phường ấp của thị xã chỉ có 2 tên trưởng phường đi vận động, thúc ép nhân dân đi bỏ phiếu, số còn lại nằm im hoặc tỏ thái độ đồng tình với quần chúng chống cuộc bầu cử. Trước tình hình đó, địch phải huy động ngụy quân, ngụy quyền, công chức, cảnh sát đi bỏ phiếu nhiều lần để đủ số phiếu quy định.

Cùng ngày hôm đó, nhân dân Tùng Nghĩa (Đức Trọng) và các ấp xung quanh đã phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Đà Lạt. Nhiều truyền đơn xuất hiện ở các đường phố, xóm ấp kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh, tẩy chay cuộc bầu cử.

Cuộc đấu tranh chống cuộc bầu cử độc diễn từ ngày 27 tháng 9 đến ngày 3 tháng 10 năm 1971, một lần nữa khẳng định sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp nhân dân Đà Lạt. Nội dung cuộc đấu tranh đã vạch trần bộ mặt tàn bạo, thối nát của chính quyền địch trong cuộc bầu cử gian lận, bịp bợm. Cuộc đấu tranh tập hợp được nhiều tổ chức công khai hợp pháp và đông đảo quần chúng  tham gia, trong đó nòng cốt là lực lượng  học sinh, sinh viên Đà Lạt.

Tuy nhiên trong cuộc đấu tranh này, do cơ sở đảng bên trong và cơ sở cốt cán tại chỗ còn yếu, chưa kết hợp được giữa đấu tranh đòi dân chủ với đấu tranh đòi dân sinh, nên chưa tập hợp được tầng lớp dân nghèo thành thị và nông thôn tham gia để mở rộng mặt trận đấu tranh. Công tác tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh chưa bảo đảm nguyên tắc ngăn cách, bí mật nên một số cơ sở bị địch bắt, một số bị lộ nên phải thoát ly ra căn cứ. Sau cuộc đấu tranh này, Tỉnh ủy Tuyên Đức và Thị ủy Đà Lạt có rút kinh nghiệm chỉ đạo phong trào đấu tranh chính trị và công tác đô thị, tiếp tục đưa phong trào phát triển mang nhiều nội dung và hình thức mới.

Trên cơ sở đẩy mạnh  hoạt động quân sự, chính trị và binh vận, thực lực cách mạng trong vùng địch kiểm soát tiếp tục phát triển. Ở vùng nông thôn  xây dựng được 441 cơ sở cách mạng các loại. Thị xã Đà Lạt có 6 phường thành lập được chi bộ, 9 phường có đảng viên  hoạt động đơn tuyến, 4 phường có chi  đoàn, ngoài ra còn có nhiều cơ sở  hoạt động theo các hệ khác nhau.

Cùng với việc chỉ đạo phong trào phía trước, Tỉnh ủy chú trọng nhiệm vụ  xây dựng phong trào du kích chiến tranh ở phía sau. Ở vùng căn cứ Lạc Dương, lực lượng  dân quân du kích cùng với đồng bào tham gia 3 đợt bố phòng bằng các loại chông và vũ khí tự tạo. Trong một trận đánh địch càn vào căn cứ, dân quân, du kích đã tiêu diệt 22 tên địch, bắn rơi một máy bay L19, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân. Tại hậu cứ, các cơ quan, đơn vị, công tác bố phòng được chú ý hơn trước. Phong trào du kích chiến tranh tuy chưa phát triển mạnh nhưng bước đầu đã hạn chế và làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ được vùng căn cứ.

Trong năm 1972, địch tập trung lực lượng  tiếp tục thực hiện chương trình bình định. Lực lượng cơ động cùng với bọn bảo an, dân vệ tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét đánh phá vùng bàn đạp và đánh vào các vùng căn cứ, hậu cứ của ta. Ở bên trong, địch tổ chức hàng trăm cuộc hành quân cảnh sát nhằm truy quét cơ sở cách mạng, khủng bố tinh thần nhân dân và bắt lính bổ sung vào các đơn vị. Để tăng cường hiệu lực bộ máy kèm tại chỗ, địch tiến hành quân sự hoá bộ máy kèm, thành lập cuộc cảnh sát cấp xã, đưa bọn sĩ quan quân đội, cảnh sát xuống nắm các chức vụ chủ chốt ở xã, phường. Ở những nơi ta  hoạt động mạnh, chúng tiếp tục dồn dân vào ấp chiến lược, tăng cường gài mìn, phục kích ban đêm quanh ấp.

Hoạt động của địch trên các địa bàn đã gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất. Cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát gặp khó khăn trong việc tiếp tế lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu cho lực lượng bên ngoài. Sản xuất ở vùng căn cứ đạt kết quả thấp do địch thường xuyên đánh phá, các cơ quan, đơn vị nhiều lần phải thay đổi hậu cứ. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến tư tưởng và nhận thức về tình hình nhiệm vụ của một số cán bộ, chiến sĩ.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ chính trị Trung ương Đảng về nhiệm vụ chiến lược trong năm 1972, tháng 12 năm 1971 Tỉnh ủy Tuyên Đức họp kiểm điểm tình hình phong trào cách mạng địa phương và đề ra nhiệm vụ: ra sức phát huy chức năng của lực lượng  vũ trang kết chặt với mũi chính trị và binh vận, đẩy mạnh tấn công trên một diện rộng, làm thất bại một bước nghiêm trọng âm mưu bình định của địch; khôi phục các ấp làm chủ, ấp tranh chấp đã mất và đưa phong trào thị xã lên một bước mới, ra sức giữ vững và mở rộng căn cứ, hành lang. Hội nghị thông qua phương án và kế hoạch  hoạt động, chọn huyện Đức Trọng làm trọng điểm, phấn đấu toàn tỉnh phải đưa được 10.000 dân lên thế làm chủ.

Trước khi bước vào chiến dịch đánh phá kế hoạch bình định của địch, lực lượng  vũ trang  trong tỉnh tiến hành huấn luyện kỹ thuật, nhất là kỹ thuật dò gỡ mìn. Để nâng cao hiệu suất chiến đấu, các đơn vị tổ chức thành từng phân đội hoạt động nhỏ lẻ, bám sát các địa bàn để thuận lợi trong nhiệm vụ tiêu diệt bọn bình định, ác ôn và lực lượng  kèm tại chỗ.

Mở màn đợt  hoạt động, đêm 5 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 810 và đại đội 816 tập kích trụ sở xã Phú Hội, sau đó kết hợp với công tác chính trị, binh vận đột nhập vào các ấp Lam Sơn, Gia Thạnh, Côi Ya, Đa Huynh diệt ác ôn, giải trang phòng vệ dân sự, làm suy yếu bộ máy kèm tại chỗ. Trên các hướng khác ở đường 11, 20, 21 lực lượng  vũ trang  cùng đội công tác phối hợp đột nhập các ấp, vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kèm, hạ uy thế địch. Tại thị xã Đà Lạt, lực lượng  biệt động cải trang diệt ác ôn, đánh vào cuộc cảnh sát Trại Mát, du kích mật diệt một số tên ác ôn.

Trong công tác  xây dựng Đảng, sau khi tổng kết tình hình thực hiện cuộc vận động  xây dựng chi bộ 4 tốt, Tỉnh ủy tổ chức quán triệt và học tập Chỉ thị 07/CT/71 của Trung ương Cục và Chỉ thị 44 của Khu ủy về  xây dựng chi bộ theo 4 yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng của chi bộ, đảng viên. Nhưng nhìn chung công tác  xây dựng Đảng tiến hành còn chậm, chưa kịp với yêu cầu nhiệm vụ, số lượng đảng viên kết nạp trong năm còn ít (9 tháng đầu năm 1972 chỉ phát triển được 12 đảng viên). Công tác  xây dựng Đảng trong vùng địch kiểm soát gặp nhiều khó khăn vì cơ sở tại chỗ còn yếu, chưa phát động được phong trào cách mạng của quần chúng.

Trong năm 1972, tình hình địa phương vẫn còn gặp khó khăn, hoạt động của ta đạt hiệu quả thấp nhưng lại thương vong nhiều, trong khi đó bọn địch hết sức ngoan cố quyết giành dân, giữ đất, bảo vệ ấp và các trục đường giao thông nên phong trào có phần chững lại, diện làm chủ và tranh chấp vẫn chưa khôi phục lại được.

Cuối năm 1972, lực lượng  vũ trang trong tỉnh tuy quân số không được bổ sung thêm, nhưng vừa tiếp tục đẩy mạnh tấn công địch, vừa khẩn trương củng cố lực lượng, vật chất để bước vào “kế hoạch thời cơ” chung của toàn Miền, đánh bại âm mưu giành dân, chiếm đất trước khi có Hiệp định Pari. Đầu năm 1973, được sự chấp thuận của Khu ủy và Quân khu ủy, Tỉnh ủy quyết định giải thể tiểu đoàn 810, rút gọn lại thành đại đội 810, một đại đội đặc công và một trung đội hoả lực trực thuộc tỉnh. Ở các huyện, giải thể Ban chỉ huy huyện đội còn lại Ban cán sự huyện đội và mỗi huyện chỉ còn lại một trung đội làm nhiệm vụ cùng phối hợp với đội công tác bám địa bàn,  xây dựng cơ sở. Riêng thị xã Đà Lạt còn 3 đội biệt động và 2 đội công tác.

Trước khi Hiệp định Pari ký kết, quân địch ở Tuyên Đức  hoạt động mạnh trên các địa bàn nhằm thực hiện âm mưu giành dân, chiếm đất.  Chúng tập trung củng cố những đồn bốt có khả năng khống chế từng mảng lớn như đồn Kim Phát, đồn M’Lọn, yếu khu Phi Nôm, xây thêm một số đồn bốt ở Đức Trọng và phía Tây Bắc Đà Lạt. Ở vùng nông thôn, địch tiến hành ủi phá địa hình, làm thêm đường mới và giãn dân từng bước nhằm lấn sâu vào vùng ta làm chủ. Lực lượng cảnh sát được đưa xuống các xã làm liên gia trưởng để kèm kẹp nhân dân, truy bắt cơ sở cách mạng.

Qua hai cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân (1968) và tập kích chiến lược TK 1970 ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch và giành nhiều thắng lợi lớn. Song lực lượng ta cũng tổn thất nặng nề, tuy được bổ sung lực lượng nhưng cũng không bù đắp hết sự mất mát hy sinh, tiểu đoàn 810 qua cũng cố cũng chỉ còn 1 đại đội, các đại đội 816, 815, 870 chỉ còn lại 1 trung đội thiếu; các đội công tác, mỗi đội còn lại không quá 50% quân số. Lực lượng cơ sở chính trị bên trong cũng tổn thất nặng nề, số đông bị bắt bớ, tù đày, một số chuyển đi nơi khác, một số nằm im, một số thoát ly ra chiến khu. Qua soát xét lại thực lực bên trong (khi Hiệp định Paris có hiệu lực) thì Đà Lạt chỉ còn 120 cơ sở ở các địa bàn Xuân Trường, Xuân Thọ, Phú Thạnh, Định An, Quảng Hiệp… Tổ chức Đảng chỉ còn 4 chi bộ, ở Đà Lạt có 3 chi bộ và 1 chi bộ ở Phú Thuận (Đơn Dương).

Thực hiện Chỉ thị 01/CT-73 của Trung ương Cục, tháng 1 năm 1973 Tỉnh ủy triển khai đợt  hoạt động theo “kế hoạch thời cơ”. Lực lượng vũ trang trong tỉnh được triển khai và phối hợp đánh địch trên các địa bàn. Trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực, các đơn vị đồng loạt đánh chiếm làm chủ 10 ấp ở vùng ven thị xã Đà Lạt và một số ấp dọc đường 11, 20, 21 kéo dài. Sau đó địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, lực lượng ta có hạn không đủ sức giữ những nơi đã đánh chiếm mà phải rút ra bám trụ xung quanh vùng ven thị xã và các bàn đạp ở nông thôn, do đó chưa thực hiện được những nhiệm vụ của Tỉnh ủy đề ra và không tạo được khí thế sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực.

Sau hơn 4 năm chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, quân và dân hai tỉnh Lâm Đồng (cũ) và Tuyên Đức đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ ác liệt, đưa phong trào cách mạng địa phương tiếp tục phát triển, nổi bật là thị xã Đà Lạt và vùng căn cứ  Lâm Đồng, góp phần cùng toàn Miền làm thất bại các kế hoạch bình định của Mỹ-nguỵ. Trong quá trình hoạt động mặc dù lực lượng vũ trang  ít và gặp khó khăn về lương thực - nhất là ở Tuyên Đức, nhưng Đảng bộ hai tỉnh luôn luôn chấp hành nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là các đợt phối hợp  hoạt động tấn công địch trong chiến dịch TK năm 1970, “Kế hoạch thời cơ” và trong thời gian ký Hiệp định Pari. Các chủ trương, đường lối của Đảng được Đảng bộ hai tỉnh vận dụng vào tình hình thực tế ở mỗi địa phương, kịp thời đề ra chủ trương và lãnh đạo quân dân khắc phục khó khăn, tích cực chiến đấu làm thất bại âm mưu và hành động của địch.

Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ thì phong trào phát triển còn chậm, nhất là trong thời kỳ đầu kế hoạch bình định của địch, chưa đánh giá đúng và có chủ trương kịp thời, đúng đắn để chống lại âm mưu, thủ đoạn của chúng. Việc thực hiện phương châm đánh địch bằng hai chân, ba mũi chưa chặt chẽ, đều khắp. Thực lực cách mạng trong vùng địch kiểm soát còn ít, nhất là những năm cuối thời kỳ này, khả năng công tác còn yếu, nhất là tổ chức Đảng tại chỗ, chưa xây dựng được lực lượng  nòng cốt có đủ khả năng, trình độ để phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ khi có lực lượng bên ngoài hỗ trợ. Những mặt còn hạn chế đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào cách mạng địa phương.

Chương V

ĐẢNG BỘ LÂM ĐỒNG VÀ ĐẢNG BỘ TUYÊN ĐỨC LÃNH ĐẠO

 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG LẤN CHIẾM, CHUẨN BỊ

LỰC LƯỢNG ĐÁNH ĐỊCH GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG

(từ tháng 2 năm 1973 đến tháng 4 năm 1975)

 

I. Đấu tranh quyết liệt chống địch lấn chiếm, giữ vững phong trào và giành quyền làm chủ (từ tháng 2 năm 1973 đến tháng 11 năm 1974)

 Thắng lợi trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và chiến công oanh liệt của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng đã buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Pa ri. Hiệp định Paris đánh dấu một bước ngoặt quan trọng làm thay đổi so sánh lực lượng  có lợi cho cách mạng và tạo ra khả năng hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. Hiệp định được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi vẻ vang. Đây là thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam[62].

Ngày 24 tháng 1 năm 1973, Ban Bí thư  Trung ương Đảng ra chỉ thị về những công việc trước mắt ngay sau khi Hiệp định Paris được ký tắt. Chỉ thị khẳng định: “Cuộc cách mạng của nhân dân ta đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đấu tranh để giữ hòa bình, tiếp tục đưa cách mạng tiến lên. Trong giai đoạn mới, cách mạng miền Nam có nhiều thuận lợi mới nhưng vẫn còn gay go phức tạp, có khả năng tiến triển trong điều kiện hoà bình được giữ vững nhưng vẫn phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch ngoan cố phá hoại hoà bình”[63].

Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư, Thường vụ Trung ương Cục ra các chỉ thị hướng dẫn những nhiệm vụ trước mắt và phương châm, phương thức  hoạt động, đề ra một số công tác cấp bách trong giai đoạn đầu khi có giải pháp chính trị[64].

Ngày 14 tháng 2 năm 1973, Thường vụ Khu ủy 6 ra Chỉ thị 01 chỉ đạo các tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền nội dung cơ bản của Hiệp định Paris, đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định, tôn trọng các quyền tự do dân chủ. Về nhiệm vụ trước mắt, chỉ thị nhấn mạnh: Phải nhanh chóng tập hợp quần chúng  thành lực lượng  chính trị mạnh mẽ và dấy lên phong trào hành động cách mạng rộng khắp trên 3 vùng, chú ý vấn đề bung dân về buôn làng cũ, mở rộng phong trào vùng ven, vùng yếu, đồng thời ra sức xây dựng lực lượng vũ trang. Trong chỉ đạo phải chuyển hướng cho phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của giai đoạn mới để vừa tấn công địch, vừa  xây dựng ta về mọi mặt.

Quán triệt các chỉ thị của Đảng, tháng 2 năm 1973, Thường vụ Tỉnh ủy hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức họp mở rộng, ra Nghị quyết về những nhiệm vụ trước mắt. Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh phát huy thắng lợi đã giành được, ra sức khắc phục khó khăn, đẩy mạnh cao trào đấu tranh chính trị theo khẩu hiệu trung tâm là đòi thi hành Hiệp định, đòi các quyền tự do dân chủ. Khẩn trương  xây dựng và phát triển lực lượng  vũ trang, chính trị,  xây dựng vùng căn cứ vững chắc về mọi mặt để làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh chính trị sắp đến và bảo đảm thắng lợi trong mọi tình huống.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, nhân dân hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức tổ chức nhiều cuộc mít tinh mừng hoà bình. Tại Đà Lạt, cơ sở bên trong hướng dẫn học sinh, sinh viên tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hoạt động văn nghệ và phát hành một số tập san công khai, nửa công khai với chủ đề “Quê hương với hoà bình”, “Chính sách hoà hợp dân tộc”. Những tập san của sinh viên phật tử, phong trào phụ nữ đòi quyền sống đều tái bản các văn kiện của Hiệp định và phát hành rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Ở thị xã B’Lao, “Uỷ ban đòi thi hành Hiệp định Paris” đẩy mạnh tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân, đồng thời đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn phải thực hiện ngừng bắn, đòi chấm dứt chiến tranh. Tổ chức Đảng bên trong lãnh đạo tổ Đảng ở trường Trung học đệ nhị cấp (nay là trường phổ thông trung học Bảo Lộc) và các tổ chức công khai  hoạt động báo chí, tìm cách liên lạc với phong trào hợp pháp ở Sài Gòn, Đà Lạt để tuyên truyền nội dung Hiệp định Paris, chính sách hoà hợp dân tộc.

Trong vùng căn cứ, đồng bào các dân tộc phấn khởi tổ chức mừng hoà bình, mừng công biểu dương thành tích kháng chiến, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa 5 phong trào thi đua, tích cực huy động sức người, sức của phục vụ phía trước.

Tuy bị thất bại nặng nề và phải chấp nhận ký Hiệp định Paris, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố bám lấy “học thuyết Ních xơn” và chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, tiếp tục dùng ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ hòng thực hiện âm mưu đặt miền Nam dưới ách thống trị của chúng, chia cắt lâu dài đất nước ta. Đế quốc Mỹ ra sức  xây dựng quân đội ngụy thành một đội quân mạnh nhất ở Đông Nam Á, dùng lực lượng tay sai tiếp tục bình định, lấn chiếm, tạo thành vành đai ngăn tuyến, phân vùng để tiêu diệt lực lượng  cách mạng, xoá bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị hiện có ở miền Nam.

Tại Tuyên Đức, địch tăng cường lực lượng, đóng thêm một số đồn ở Đức Trọng và phía Tây Bắc Đà Lạt, củng cố các đồn có khả năng khống chế từng mảng lớn như đồn Kim Phát (trên đường 21 kéo dài), đồn M’Lọn (trên đường 21) và yếu khu Phi Nôm. Thực hiện kế hoạch bình định lấn chiếm, chúng tiến hành 3 hình thức: giãn dân từng bước, ủi phá địa hình và mở đường mới. Trong vùng kiểm soát, chúng chủ trương vô hiệu hoá cơ sở cách mạng, đưa cảnh sát xuống làm liên gia trưởng để kèm kẹp dân, ngăn chặn sự liên lạc giữa bên trong với bên ngoài.

Những tháng đầu sau khi có Hiệp định Paris, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức vẫn giữ được thế  tấn công địch, lực lượng vũ trang và các đội công tác bám trụ trên các địa bàn để hỗ trợ quần chúng  bên trong đấu tranh, làm cho địch gặp nhiều khó khăn lúng túng. Nhưng từ tháng 5 năm 1973 trở đi, địch vừa đánh phá phong trào bên trong, vừa đẩy mạnh  hoạt động ra bên ngoài nhằm lấn chiếm vùng Quang Trung (phía Nam thị xã Đà Lạt), khu vực Nam Ban, Núi Chai (Đức Trọng), vùng Tam giác Hồ Tiên, là những bàn đạp đứng chân của lực lượng vũ trang ta. Ở Nam Ban, địch đưa 3 tiểu đoàn có trực thăng yểm trợ càn quét liên tục 2, 3 tháng liền để cố đẩy lực lượng ta ra khỏi vùng này. Lúc đầu lực lượng  vũ trang và các đội công tác chỉ đánh địch khi chúng càn quét ra ngoài các bàn đạp của ta, chưa dám vào ấp phá kèm, phát động quần chúng  vì sợ vi phạm Hiệp định. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị kiên quyết đánh địch lấn chiếm. Do vậy, trừ khu vực Núi Chai, còn các nơi khác ta vẫn giữ được bàn đạp và địa bàn đứng chân.

Tháng 4 năm 1973, Tỉnh ủy Tuyên Đức ra Nghị quyết về nhiệm vụ phương châm, phương thức đấu tranh quân sự chính trị và binh vận trong tình hình mới. Lực lượng vũ trang phải cùng với lực lượng chính trị của quần chúng  ra sức giữ vững thế trận hiện có, sẵn sàng đánh bại các cuộc hành quân càn quét của địch, kiên quyết giữ vững vùng căn cứ  và vùng bàn đạp.

Tại Lâm Đồng, địch tập trung củng cố bộ máy kèm, khống chế quần chúng, đôn quân, bắt lính. Chúng bố trí một tiểu đoàn công lộ bảo vệ đường dây cao thế từ Di Linh đến An Lạc. Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1973, địch vi phạm Hiệp định gần 500 vụ, chủ yếu là những cuộc hành quân càn quét lấn chiếm, dùng máy bay ném bom và pháo tầm xa bắn phá vùng ta kiểm soát. Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1973, chúng đã ủi phá 1.500 ha và đưa 12.000 dân từ Bình Long, Phước Long đến khu vực Tân Rai, Minh Rồng và mở rộng lấn chiếm phía Bắc thị xã B’Lao.

Sau gần 4 tháng đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Paris, diễn biến tình hình giữa ta và địch có nhiều phức tạp. Cuối tháng 5 năm 1973, Khu ủy 6 họp hội nghị lần thứ 15 để kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ sắp tới. Hội nghị nhận định: “Phong trào trong Khu đã có một bước phát triển so với trước, thế triển khai bố trí lực lượng  của ta có lấn sâu, áp sát ấp, sát dân hơn nhất là các hướng trọng điểm, từng bước đẩy lùi âm mưu bình định, lấn chiếm của địch. Vùng căn cứ đựơc củng cố, tình hình ổn định hơn. Thực lực tại chỗ phát triển và củng cố khá hơn trước, phong trào chính trị, binh vận có tiến bộ, bước đầu có chuyển biến thuận lợi”[65].

Thực hiện Nghị quyết Khu ủy, tháng 6 năm 1973, Tỉnh ủy Lâm Đồng họp kiểm điểm tình hình và ra Nghị quyết về nhiệm vụ của địa phương trong thời gian tới. Nghị quyết chỉ rõ: Trên cơ sở chuyển mạnh phương châm, phương thức hoạt động, tiếp tục đẩy mạnh khâu bám, tấn, xây và ra sức giữ, nâng vùng tranh chấp lên, tích cực mở cơ sở vào vùng sâu, vùng yếu, xoá vùng trắng. Phát động quần chúng đẩy mạnh 3 mũi tấn công địch, khẩn trương  xây dựng thực lực về mọi mặt.

Để giải quyết lương thực, thực phẩm cho các cơ quan, đơn vị trong tỉnh, ngày 19 tháng 8 năm 1973, Tỉnh ủy Lâm Đồng thành lập “Công doanh” gồm 207 người, cơ sở sản xuất này đã mua 5 máy ủi Rông đe, 10 con trâu và khai hoang trên 300 ha đất trồng trọt. Trong năm 1974 sản xuất được trên 700 tấn lúa, đánh bắt trên 6.100 kg cá làm thực phẩm và chế biến nước mắm, góp phần khắc phục khó khăn về đời sống.

Qua một năm thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết Tỉnh ủy, quân và dân tỉnh Lâm Đồng đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chính trong giai đoạn mới, giữ vững phong trào cách mạng; nhưng thực lực bên trong phát triển còn chậm, có đơn vị vũ trang hoạt động ở phía trước giảm sút ý chí chiến đấu, xuất hiện tư tưởng bi quan, giao động nên một số cán bộ, chiến sỹ đảo ngũ về Miền. Trong năm 1973, lực lượng  vũ trang  trong tỉnh đánh địch 203 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 700 tên, bắn rơi 6 máy bay, phá hủy 7 xe quân sự. Các đội công tác đột nhập 160 lần vào 38 ấp, 12 sở, tuyên truyền cho gần 10.000 lượt người. Do ảnh hưởng rộng lớn của vùng căn cứ  và uy thế của cách mạng nên đồng bào ở các ấp Bù Bắp, Bù Bông, Đạ Dòn, Tân Rai, Khiêm Bình, Khiêm Cần, Bích Khê và buôn Phi R’Te nổi dậy giành quyền làm chủ, vùng căn cứ  giải phóng được mở rộng.

Đi đôi với  hoạt động quân sự, công tác binh vận được chú ý hơn, ta đã giáo dục 1.034 gia đình binh lính địch, 457 dân vệ. Qua tuyên truyền giáo dục đã xây dựng được hai cơ sở nội tuyến, 10 cơ sở dân vệ, 17 du kích mật và sử dụng có mức độ 20 toán phòng vệ dân sự.

Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Hội nghị Khu ủy lần thứ 15, tháng 6 năm 1973, Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Đức họp hội nghị, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho từng địa bàn. Hội nghị khẳng định: Phải chuyển mạnh phương châm phương thức  hoạt động trong tình hình mới, quyết tâm bám trụ giữ vững và mở rộng vùng tranh chấp, xoá đại bộ phận ấp trắng. Tích cực mở rộng phong trào vào vùng sâu, vùng yếu kết hợp với phá kèm, giành dân, giành quyền làm chủ,  xây dựng được các lõm giải phóng. Ra sức xây dựng lực lượng bên trong và bên ngoài vững mạnh, đào tạo nhiều cơ sở cốt cán bên trong. Đẩy mạnh sản xuất, bố phòng, chống địch tập kích vào vùng căn cứ.

Thực hiện Nghị quyết Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang và các đội công tác đẩy mạnh  hoạt động, quyết tâm bám trụ, đấu tranh giằng co quyết liệt với địch trên các địa bàn. Nhưng do lực lượng ta có hạn và địch  hoạt động mạnh hơn trước, nên 6 tháng cuối năm 1973 thế và lực của ta bị giảm sút, các đội công tác chỉ bám bên ngoài, diện bám dân còn hẹp. Cơ sở Đảng ở vùng nông thôn hầu như không còn, cơ sở cách mạng ở vùng tranh chấp và vùng ven thị xã Đà Lạt bị địch đánh phá. Tuy gặp nhiều khó khăn, tổn thất, nhưng trong năm 1973 lực lượng vũ trang và các đội công tác đã đánh địch 97 trận, diệt 494 tên, phá hủy 7 xe quân sự, 2 máy bay C130.

Được cơ sở bên trong tuyên truyền, vận động, đồng bào ở nhiều nơi đấu tranh đòi được tự do đi lại làm ăn. Đồng bào các dân tộc ít người ở các buôn R’Lơm, M’Nông, B’ Rết (Đức Trọng) và đồng bào Kinh ở các ấp Đất Làng, Phước Thành, Nam Thiên (Đà Lạt) đi sản xuất ngoài vùng địch quy định. Cơ sở bên trong còn phát triển trên 100 cơ sở mới, 15 du kích mật, đưa 29 thanh niên thoát ly ra vùng giải phóng, vận động được 1.160 binh lính đào rã ngũ và thanh niên trốn lính.

Phong trào học sinh, sinh viên Đà Lạt vẫn duy trì  hoạt động bằng các tổ chức công khai hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tuyên truyền rộng rãi chính sách hoà hợp dân tộc, ủng hộ phụ nữ chợ Đà Lạt đấu tranh chống tăng thuế và hỗ trợ phong trào đấu tranh của công nhân vận tải Đà Lạt chống nghiệp đoàn “Vàng”, đòi giải quyết đời sống. Lực lượng học sinh, sinh viên còn phát động phong trào chống tham nhũng nhằm tố cáo chế độ ngụy quyền tay sai thối nát, vận động quần chúng  chống lệnh giới nghiêm của địch. Ở vùng căn cứ Lạc Dương, công tác bố phòng tiếp tục đựơc đẩy mạnh, xây dựng buôn chiến đấu và vành đai phía trước thành thế liên hoàn. Đồng bào xã căn cứ và các cơ quan, đơn vị cắm thêm 845 ngàn cây chông, đào 149 hầm chông, gài 1.619 quả mìn và 69 mang cung nên đã hạn chế được các cuộc lùng sục, càn quét của địch.

Sau khi ký Hiệp định Paris, tuy đã rút quân về nước nhưng đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục dùng ngụy quân, nguỵ quyền làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, gây chiến tranh, lấn chiếm các vùng giải phóng của ta.

Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7 năm 1973) chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Về phương châm chiến lược, Hội nghị xác định: Dù phát triển theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.

Dưới ánh sáng Nghị quyết của Đảng, tháng 12 năm 1973, Tỉnh ủy Lâm Đồng họp Hội nghị kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ năm 1974 là: Đẩy mạnh hai mũi tấn công, phá âm mưu bình định, lấn chiếm của địch, từng bước nâng phong trào vùng tranh chấp; đồng thời mở rộng phong trào vùng sâu, vùng yếu, củng cố và phát triển phong trào thị xã, thị trấn; tạo thế, tạo lực để chống bình định lấn chiếm, làm thay đổi tương quan lực lượng  có lợi cho ta.

Về phía địch, trong năm 1974 tiếp tục bình định bên trong và lấn chiếm bên ngoài, chúng đưa bọn ác ôn xuống tăng cường bộ máy tề, thành lập các phân chi khu quân sự ở xã, tổ chức các đảng phái phản động và ngụy đoàn thể để tranh thủ nắm quần chúng, đánh phá cơ sở cách mạng tại chỗ. Đi đôi với bình định bên trong, địch đẩy mạnh lấn chiếm bên ngoài, phía Tây Minh Rồng, B’Kẻ, đưa lực lượng càn quét, lùng sục dài ngày ở khu vực Xà Lùng, Tân Dân, đường Hàng No. Những âm mưu và thủ đoạn của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn trong đi lại và  hoạt động. Tuy vậy, địch vẫn không thể nắm được quần chúng, tư tưởng ngụy quân, ngụy quyền cầu an dao động, tinh thần chiến đấu giảm sút, nhiều tên trốn lính, bỏ việc.

Trong năm 1974, cách mạng miền Nam có nhiều chuyển biến quan trọng đã tác động lớn đến phong trào cách mạng tỉnh Lâm Đồng. Sau khi quán triệt các Nghị quyết của Đảng về tình hình và nhiệm vụ mới, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong tỉnh đã nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm, nội bộ đoàn kết, nhất trí cao. Vì vậy phong trào cách mạng địa phương vẫn được giữ vững, vùng căn cứ được củng cố, 5 phong trào thi đua đạt kết quả tốt. Lực lượng vũ trang và các đội công tác đánh địch 286 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.102 tên, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, mở rộng vùng tranh chấp, xoá được một số ấp trắng, phát triển thêm nhiều cơ sở cách mạng. Các đội công tác đột nhập vào các ấp  Đạ Lào, Lam Sơn, khu thương phế binh, Đồng Đò, Đồng Lạc… tổ chức 24 cuộc mít tinh với 600 lượt người dự, tuyên truyền cho quần chúng về chính sách hoà hợp dân tộc, vận động quần chúng  đấu tranh chống địch lấn chiếm.

Về đấu tranh chính trị, cơ sở bên trong đã vận động và tổ chức 53 cuộc đấu tranh với 4.370 lượt người tham gia, đòi giải quyết đời sống, đòi tự do đi lại làm ăn. Tại trường trung học đệ nhị cấp thị xã B’Lao, tổ Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của giáo viên học sinh và các tổ chức công khai, hợp pháp như: Hội đồng giáo sư cố vấn, Hội đồng giáo sư hướng dẫn (giáo viên chủ nhiệm); Ban đại diện học sinh. Tháng 3 năm 1974, cơ sở cốt cán và học sinh trong trường ra tập san “Niềm tin” (in ronéo 500 bản) có nội dung tiến bộ và được bạn đọc hưởng ứng. Nhưng sau đó chính quyền địch ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành. Đảng viên và cơ sở cốt cán trong trường tham gia ban biên tập tờ báo “Thắp đuốc” (dưới danh nghĩa là tờ báo của Liên đoàn học sinh phật tử Lâm Đồng), tờ báo có tác dụng giáo dục lớn trong giáo viên, học sinh và thanh niên. Tổ Đảng còn tham gia lãnh đạo các tổ chức: Liên đoàn học sinh, phật tử Lâm Đồng; lực lượng  hòa giải phật giáo và Uỷ ban đòi thi hành Hiệp định Paris ở thị xã B’Lao. Mục tiêu  hoạt động của các tổ chức trên là lên án âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ và bọn tay sai bán nước, khơi dậy tinh thần yêu nước và hướng quần chúng về cách mạng.

Ngày 15 tháng 3 năm 1975, nhân dịp nhà trường tổ chức thi “Khánh tiết” (trang trí lớp học), cơ sở trong trường hướng dẫn học sinh các lớp đưa một số tranh vẽ và khẩu hiệu vào nội dung trang trí. Ở lớp 12c, học sinh vẽ bức tranh lớn hình một cô gái cầm liềm ôm bó lúa màu vàng in lên bầu trời màu đỏ, quanh hình là một vòng tròn mang dòng chữ: “Độc lập, tự do, không có gì quý hơn”. Khi hiệu trưởng cùng ban chấm thi đến kiểm tra, chúng hết sức ngạc nhiên và tức tối, liền cho bọn phản động trong trường đến gỡ bức tranh. Ở lớp 12b, học sinh trang trí câu khẩu hiệu: “Tổ quốc trên hết”, thể hiện ý thức và tình cảm của mình đối với dân tộc. Tên hiệu trưởng ra lệnh học sinh xé bỏ khẩu hiệu đó nhưng không được chấp nhận, hắn liền tỏ thái độ láo xược và xúc phạm đến lòng tự trọng của học sinh[66]. Nhân sự việc đó, tổ Đảng và cơ sở cốt cán vận động học sinh toàn trường bãi khoá. Liên tục trong 5 ngày học sinh ngồi trước sân trường đồng thanh hát bài “Dậy mà đi”, đồng thời cử đoàn đại diện học sinh đến gặp ban lãnh đạo nhà trường và bắt tên hiệu trưởng phải ra xin lỗi trước học sinh. Mặc dù địch đưa lực lượng  cảnh sát đến bao vây và sẵn sàng đàn áp, nhưng cuối cùng tên hiệu trưởng của trường là phó chủ tịch đảng dân chủ  Bảo Lộc phải xin lỗi học sinh. Qua phong trào đấu tranh của học sinh, ta đã  xây dựng được 50 cơ sở cốt cán, uy tín và ảnh hưởng của cách mạng ngày càng nâng cao. Với sự phát triển của phong trào cách mạng địa phương, thực lực cách mạng trong vùng địch kiểm soát không ngừng được củng cố và phát triển. Từ đầu năm 1973 đến tháng 5 năm 1974 trong 116 ấp, sở đã tổ chức được 1.321 cơ sở, 12 chi bộ với 97 đảng viên, gần 100 du kích mật và tự vệ mật, 35 cơ sở binh vận, 4 lõm chính trị với trên 160 quần chúng.

Ở vùng căn cứ, đời sống ổn định hơn, sản xuất phát triển mạnh, nên đã giải quyết được lương thực, một số nơi có dự trữ từ 3 đến  5 tháng. Công tác  xây dựng Đảng và phát triển lực lượng  dân quân du kích được quan tâm hơn. Đến cuối năm 1974, ở 13 xã căn cứ có 40 chi bộ với 1.328 đảng viên và 1.425 dân quân du kích.

Nhằm thực hiện âm mưu bình định lấn chiếm và đối phó với các  hoạt động của ta, trong năm 1974 quân địch ở Tuyên Đức tiếp tục đôn quân bắt lính, củng cố bộ máy kèm ở cơ sở. Chúng tuyên truyền và bắt buộc vào Đảng Dân chủ nhằm thanh lọc quần chúng, truy bắt cơ sở cách mạng. Ở bên  ngoài, địch ra sức ủi phá, phát quang địa hình, đưa dân đến lấn chiếm, lập khu định cư. Tại Đức Trọng, địch tập trung lực lượng  lấn chiếm khu vực Núi Chai, đóng cứ điểm ở thác Pông Gua, tiến hành cày ủi, chia ra từng ô để chuẩn bị đưa dân Tùng Nghĩa đến ở, làm vành đai bảo vệ quận lỵ Đức Trọng, sân bay Liên Khương. Địch còn tiến hành làm đường 21 kéo dài vào Riông Tô, Khút, B’Teng để đưa dân về chỗ cũ lập khu tập trung, chặn hành lang của ta từ căn cứ của tỉnh ra bàn đạp thị xã. Ở Đơn Dương, địch đưa lực lượng  ra khu Tam Giác đóng chốt các cao điểm, hỗ trợ cho bọn khai thác gỗ nhằm đẩy lực lượng  ta ra khỏi bàn đạp. Hướng Nam thị xã Đà Lạt, địch lấn chiếm khu vực Quảng Thừa, Quang Trung, đóng thêm một số cứ điểm. Đến cuối năm 1974, địch đã ủi phá trên 10.000 ha ở các khu vực Núi Chai, Tam Giác Hồ Tiên và phía Nam thị xã Đà Lạt, dự định đưa 20.000 dân đến ở nhằm làm vành đai bảo vệ bên trong, lấn chiếm các bàn đạp và cắt đứt đường hành lang của ta. Đối với vùng căn cứ, chúng tăng cường  hoạt động thám báo, biệt kích, dùng lực lượng nhỏ, thọc sâu phá hoại sản xuất và tập kích vào hậu cứ các cơ quan đơn vị. Những âm mưu và thủ đoạn  hoạt động của địch làm cho ta gặp nhiều khó khăn, tổn thất, làm hạn chế sự phát triển của phong trào.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng và các chỉ thị của Trung ương Cục, tháng 12 năm 1973 Tỉnh ủy Tuyên Đức họp kiểm điểm tình hình và xác định nhiệm vụ chủ yếu năm 1974 là: ra sức đánh phá âm mưu bình định lấn chiếm, ủi phá địa hình của địch, khẩn trương xây dựng và phát triển thực lực cách mạng trên các vùng. Xây dựng các bàn đạp, bảo đảm thế đứng vững chắc cho lực lượng vũ trang và đội công tác ven thị xã các trục giao thông,  xây dựng lõm chính trị bên trong và các ấp vùng ven thị xã nhằm tạo thế bám cho Tỉnh ủy và thị ủy vào chỉ đạo phong trào Đà Lạt. Trước mắt, tập trung khôi phục lại thế tranh chấp, làm lỏng rã kèm ở các ấp trên đường 11, 20, 21 kéo dài, chủ yếu là các xã Xuân Trường, Xuân Thọ và Hiệp Thạnh.

Bước vào năm 1974, tình hình Tuyên Đức gặp nhiều khó khăn, các đơn vị vũ trang quân số giảm nhiều. Đơn vị 810 từ 1 tiểu đoàn nay còn lại 1 đại đội với 75  cán bộ, chiến sỹ, đại đội đặc công 54B còn 37 đồng chí; bộ đội địa phương các huyện mỗi đơn vị chỉ còn 15 đồng chí. Tuy vậy, trong năm 1974 phong trào cách mạng địa phương tiếp tục có chuyển biến mới. Lực lượng vũ trang đánh địch 48 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 224 tên. Các đơn vị liên tục đánh địch nống ra lấn chiếm khu vực Tam Giác Hồ Tiên, Nam Ban. Đặc biệt trong tháng 11 năm 1974, 40 cán bộ, chiến sỹ đại đội 810 chiến đấu suốt 3 ngày đêm chống cuộc hành quân càn quét của 3 tiểu đoàn bảo an, có pháo binh yểm trợ vào khu vực Nam Ban, loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên. Các đội công tác cùng lực lượng  vũ trang  đã 41 lần đột nhập vào 11 ấp, rải 8.270 truyền đơn, gặp 109 gia đình và 209 lượt người để tuyên truyền chính sách hoà hợp dân tộc. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1974, các đội công tác của thị xã Đà Lạt đột nhập vào các ấp Nam Thiên, Sào Nam diệt một số tên mật vụ và chỉ điểm. Tại thị xã Đà Lạt, lực lượng học sinh sinh viên tiếp tục đấu tranh bằng các hình thức công khai, nửa hợp pháp, vừa tuyên truyền Hiệp định Paris, vừa kết hợp với phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Ngoài các tổ chức công khai hợp pháp như: Ban chấp hành phụ nữ đòi quyền sống; Mặt trận nhân dân tranh thủ hoà bình, Mặt trận bảo vệ văn hoá dân tộc, ở Đà Lạt còn thành lập Uỷ ban đòi thi hành Hiệp định Paris, Mặt trận cứu đói; Uỷ ban nhân dân chống tham nhũng; Uỷ ban đòi cải thiện chế độ lao tù để tập hợp quần chúng  và đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú. Nhân ngày Phật đản đầu năm 1974, tại sân chùa Linh Sơn, khoảng 200 sinh viên tổ chức đêm lửa trại “Lửa hồng”, chủ đề cuộc hội thảo là: Qua một năm Hiệp định Paris đã đem lại gì cho Việt Nam? Cơ sở bên trong hướng dẫn sinh viên phật tử tổ chức cắm trại 2 ngày, rước đuốc, tuần hành mang biểu tượng chim bồ câu trên bản đồ Việt Nam và hô vang khẩu hiệu hoà bình.

Đến cuối năm 1974, thực lực cách mạng trong vùng địch tạm kiểm soát có 295 cơ sở (so với năm 1973 giảm 204 cơ sở), 299 cảm tình, 4 tổ du kích mật, an ninh mật. Riêng thị xã Đà Lạt còn 95 cơ sở, 100 cảm tình, 1 chi bộ chợ Đà Lạt, 1 tổ đảng trong sinh viên (có 7 đảng viên), các lõm chính trị ở Thái Phiên, Sào Nam, Tây Hồ, Trại Mát, Phước Thành, Xuân An vẫn giữ được.

Để nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy và Ban cán sự tỉnh đội Tuyên Đức quan tâm chỉ đạo công tác  xây dựng Đảng và phát triển đảng viên. Nhưng do chi bộ còn nhiều mặt yếu kém, nội dung sinh hoạt chưa tốt và chưa thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nên trong cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt nhiều chi bộ chưa đạt yêu cầu. Công tác phát triển đảng viên còn chậm, trong năm 1973 và 6 tháng đầu năm 1974 chỉ kết nạp được 41 đảng viên, trong khi đó số đảng viên hy sinh 42 đồng chí.

Từ khi có Hiệp định Paris đến cuối năm 1974, Tỉnh ủy Lâm Đồng và Tỉnh ủy Tuyên Đức lãnh đạo quân và dân trong tỉnh phát huy tinh thần tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn gian khổ cùng toàn miền đánh trả hành động bình định lấn chiếm của địch. Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng được quan tâm nhằm làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Nhưng nhược điểm cơ bản trong thời gian này là chưa kịp thời đánh giá âm mưu, thủ đoạn  hoạt động của địch sau khi có Hiệp định Paris, chưa quán triệt quan điểm bạo lực cách mạng trong giai đoạn mới, do đó có địa phương, đơn vị lúc đầu còn chần chừ, thiếu quyết tâm trong nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm. Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng có lúc chưa giải quyết kịp thời những băn khoăn, vướng mắc của cán bộ, chiến sỹ nên có xuất hiện tư tưởng bi quan giao động. Công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên và xây dựng thực lực cách mạng bên trong còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, nhất là ở Tuyên Đức.

II. Lâm Đồng, Tuyên Đức chuẩn bị lực lượng, đánh địch giải phóng quê hương (từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 4 năm 1975)

Từ giữa năm 1974, trên chiến trường miền Nam đã xuất hiện tình thế mới, tình hình có nhiều chuyển biến căn bản. Đến cuối năm 1974 các quận lỵ Thượng Đức, Minh Long, Nha Bích, Tống Lê Chân, Tánh Linh, Măng Đen, Giá Vụt được giải phóng, nhưng địch không có khả năng chiếm lại. Trước tình hình đó, tháng 10 năm 1974, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp và quyết định phương án hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị tổng kết, đánh giá kế hoạch đánh phá bình định và thông qua kế hoạch  hoạt động mùa khô từ cuối năm 1974 đến tháng 5 năm 1975 gồm hai đợt: đợt 1 từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975, đợt 2 từ tháng 3 năm 1975 đến tháng 5 năm 1975.

Quán triệt tinh thần đó, Khu ủy 6 đề ra yêu cầu, nhiệm vụ đợt 1 là tập trung lực lượng, đẩy mạnh tấn công trên ba vùng, làm chuyển tình thế, tạo ra bước ngoặt mới nhằm đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, ở những địa bàn trọng điểm giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, khôi phục và mở thêm vùng tranh chấp, thu hẹp vùng kèm, phát triển cơ sở cách mạng, đưa phong trào đô thị lên bước phát triển mới nhằm làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta. Vấn đề quan trọng nhất là giành dân, giành quyền làm chủ, làm lỏng hay thu hẹp diện kèm của địch.

Để phù hợp với tình hình địa phương, Tỉnh ủy Lâm Đồng đề ra yêu cầu của chiến dịch là: Ra sức tấn công địch, đẩy lùi một bước âm mưu bình định lấn chiếm của địch, phát triển phong trào du kích chiến tranh, mở rộng diện  hoạt động đều khắp. Đánh phá một số phân chi khu, đồn bót, vừa đánh tiêu diệt, vừa giải trang phòng vệ dân sự ở các ấp, đưa một số ấp lên tranh chấp mạnh, kể cả vùng ven thị xã. Cùng với việc mở rộng phong trào, phải  xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, lực lượng  chính trị, cơ sở cách mạng và du kích mật bên trong,  xây dựng nội tuyến trong phòng vệ dân sự. Vùng căn cứ vừa bố phòng đánh địch càn quét, chuẩn bị đón dân phía trước về, vừa huy động dân công phục vụ phía trước, lực lượng  du kích luân phiên ra phía trước cùng đội công tác đánh địch, bám quần chúng phát động và  xây dựng phong trào.

Ở Tuyên Đức, bước sang năm 1975 tình hình vẫn còn nhiều khó khăn. Các cơ quan, đơn vị trong tỉnh chỉ còn 300 cán bộ, chiến sỹ. Phong trào quần chúng yếu, cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát còn ít. Trong khi đó, lực lượng  địch ở địa phương còn khoảng 15.000 tên, được trang bị đầy đủ. Nhưng với quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới, Hội nghị Tỉnh ủy cuối năm 1974 đã xác định: Phải tập trung sức đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch. Ra sức khôi phục các bàn đạp đã mất và mở rộng các lõm chính trị bên trong thị xã nhằm tạo được thế đứng bên ngoài lẫn bên trong vững chắc. Tích cực giành lại vùng làm chủ, tranh chấp cũ và mở thêm vùng mới, làm thay đổi tương quan có lợi cho ta để khi có thời cơ tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Phối hợp với phong trào toàn Miền, qua  hoạt động đợt 1 mùa khô 1974-1975, quân và dân Khu 6 phối hợp với lực lượng vũ trang  Khu 7 tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn, 1 đại đội, tiêu hao nặng một bộ phận chủ lực cơ động thuộc sư đoàn 18 ngụy, làm tan rã bộ máy kèm xã, ấp ở huyện Tánh Linh và phần lớn huyện Hoài Đức[67], tiêu diệt phân chi khu Võ Đắc, san bằng 80 đồn bót, bắn rơi và phá huỷ 19 máy bay, phá hỏng 67 xe quân sự, thu 2.389 súng các loại, giải phóng hoàn toàn một huyện và 4 xã với 35.000 dân.

Tại Lâm Đồng, lực lượng vũ trang của tỉnh tấn công khu tập trung Quảng Lâm; đội công tác và du kích căn cứ đột nhập vào các ấp KLong Trao, Hàng Làng, các đồn điền. Trong đợt 1, lực lượng vũ trang tỉnh đánh địch 83 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 194 tên, đánh thiệt hại nặng một đại đội và một trung đội bảo an, san bằng nhiều đồn bót, buộc địch phải rút khỏi khu vực An Lạc (nay là xã Lộc An).

Hoà nhịp với khí thế tiến công của chiến dịch, lực lượng vũ trang tỉnh Tuyên Đức tuy còn yếu nhưng đã cố gắng đẩy mạnh  hoạt động, tiêu diệt địch tại ấp R’Lơm, liên tục đánh địch lấn chiếm ở khu vực Nam Ban; các đội công tác phối hợp với du kích mật đánh vào trụ sở xã Bắc Hội, đánh địch đóng chốt ở Đất Mới, đột nhập vũ trang tuyên truyền vào các ấp Gia Thạnh, Bắc Hội, Lạc Xuân, Nam Sơn, Phú Hội, Quảng Hiệp, Định An và các ấp vùng ven thị xã Đà Lạt như Đa Lộc, Đa Cát, Quang Trung. Do đó ta đã giữ được các bàn đạp (trừ khu vực Núi Chai), giành lại được một số  ấp tranh chấp trước đây bị mất như Đất Làng, Xuân Sơn, Định An, Bắc Hội, Phú Thuận. Đó là điều kiện thuận lợi cho tỉnh Tuyên Đức khi bước vào đợt hai của chiến địch.

Nhìn chung trong đợt 1 mùa khô 1974-1975, phong trào cách mạng hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức có bước phát triển mới, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi âm mưu bình định, lấn chiếm của địch, củng cố và  xây dựng được thực lực cách mạng bên trong. Nhưng vì lực lượng  ta có hạn nên  hoạt động chưa được thường xuyên, kết quả chưa đáp ứng với yêu cầu giai đoạn mới.

Thắng lợi vang dội, dồn dập trên các chiến trường trong những tháng đầu năm 1975 đã tạo ra bước ngoặt mới của cách mạng miền nam. Những điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam đang chín muồi.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ chính trị Trung ương Đảng (hội nghị tháng 10 năm 1974 và tháng 1 năm 1975), từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975 chiến dịch Tây Nguyên mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam đã giành được thắng lợi vang dội. Thừa thắng, ta mở các chiến dịch lớn giải phóng Trị Thiên và một số tỉnh đồng bằng Khu 5. Để tranh thủ thời cơ chiến lược, ngày 25 tháng 3 năm 1975 Bộ chính trị họp quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ chính trị nhận định: Thời cơ để tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi. Bộ chính trị hạ quyết tâm chiến lược: Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo  bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam trong tháng 4 năm 1975.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 15 ra Nghị quyết đặc biệt đề ra nhiệm vụ trực tiếp khẩn cấp là: Bắt đầu vào đợt 2, cách mạng miền Nam đã chuyển lên nhảy vọt, phát triển thành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Vì vậy, phải tranh thủ thời gian, vì thời gian lúc này là sức mạnh, phải tập trung từng giờ, từng ngày, từng tháng. Đầu tháng 4 năm 1975, Huyện ủy tập trung chỉ đạo huyện lỵ, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo tỉnh lỵ, Khu ủy chỉ đạo thành phố, cơ quan quan trọng nhất của mình.

Trung ương Cục và Quân ủy Miền giao nhiệm vụ cho Khu 6 là giải phóng huyện Hoài Đức và toàn tỉnh Bình Tuy, đồng thời phối hợp với lực lượng Miền đánh chiếm chi khu Đạ Huoai, giải phóng Bảo Lộc, Di Linh  và các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.

Bước vào đợt 2 của chiến dịch, hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Ở Lâm Đồng, lực lượng vũ trang của tỉnh chỉ còn 504 cán bộ, chiến sỹ. Trong khi đó, địch tăng cường thêm lực lượng để phòng thủ, đưa số quân các loại lên 18.800 tên. Ngoài ra ở hai tỉnh còn có các đơn vị thiết giáp, pháo binh, máy bay và trên 1.000 sĩ quan ở các trường Võ bị, Chi ủy và tham mưu, Chiến tranh chính trị, Cảnh sát Đà Lạt.

Trước thời cơ ngàn năm có một và được sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Khu uỷ 6, Tỉnh ủy Lâm Đồng và Tỉnh ủy Tuyên Đức xác định: Chủ động tấn công địch để phối hợp với các chiến trường, đồng thời khi có lực lượng của trên về  hoạt động tại địa phương thì phải sẵn sàng phối hợp tấn công và nổi dậy, giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi to lớn trên các chiến trường đã có ảnh hưởng rất lớn đến địa phương. Ở Lâm Đồng, trong các cơ quan, đơn vị và nhân dân vùng căn cứ  không khí nhộn nhịp hẳn lên, toàn bộ sức người sức của được huy động phục vụ chiến dịch, quyết tâm giải phóng quê hương. Trên 2.500 lượt người dân căn cứ Bắc tham gia hàng vạn ngày công làm con đường kéo pháo từ dốc Con Ó đến B’Trú để phối hợp tiến công thị xã B’Lao. Cơ sở “Công doanh” của tỉnh cung cấp hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm cho các đơn vị chủ lực và cơ quan đơn vị trong tỉnh. Trong vùng địch kiểm soát, các chi bộ lãnh đạo cán bộ, đảng viên, cơ sở tại chỗ có kế hoạch nổi dậy diệt địch, phá kèm, chiếm lĩnh và bảo vệ các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp và thành lập chính quyền tự quản. Tại thị xã B’ Lao, lực lượng  tại chỗ[68] tuy chưa được phổ biến tình hình và giao nhiệm vụ cụ thể, nhưng qua đài phát thanh biết được tình hình chung có nhiều chuyển biến nên chi bộ họp bàn kế hoạch hoạt động khi có lực lượng bên ngoài vào đánh chiếm thị xã. Với phương án đó, các cơ sở đã chuẩn bị 42 ô tô, 14 xe lam, 500 lít xăng, lương thực, thực phẩm, may cờ và có kế hoạch tiếp quản, bảo vệ các cơ quan nhà máy.

Đầu tháng 3 năm 1975, tại Cầu Cháy (Tà Lài), đồng chí Trần Lê - Bí thư Khu ủy 6 triệu tập Hội nghị gồm một số đồng chí Thường vụ Khu ủy và Bộ chỉ huy Quân khu 6, đại diện của Miền để thống nhất chỉ đạo, triển khai kế hoạch tấn công và thành lập đảng ủy tiền phương. Khu ủy chỉ định Uỷ ban quân quản tỉnh Lâm Đồng, phân công đồng chí Trần Như Khuôn (tức Năm Lực) bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng trực tiếp chỉ đạo địa bàn Di Linh, phối hợp với lực lượng  Khu và Miền chuẩn bị chiến trường, đánh chiếm và tiếp quản.

Tình hình trên các chiến trường ngày càng phát triển thuận lợi, có điều kiện thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ chính trị đề ra. Do vậy, chỉ sau 15 ngày được Khu ủy giao nhiệm vụ, Tỉnh ủy Lâm Đồng đã ba lần thay đổi phương án cho phù hợp với tình hình và yêu cầu chiến dịch. Phương án lần thứ 3 là khẩn trương chuẩn bị giải phóng B’Xa, Đạ Huoai, Đạ Gùi, uy hiếp Di Linh, cô lập thị xã B’Lao và khi có lực lượng của trên đánh chiếm Quảng Đức thì Lâm Đồng tranh thủ thời cơ giải phóng tỉnh nhà. Với phương án đó, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo các đơn vị khẩn trương chuẩn bị chiến trường, bố trí cán bộ, chiến sỹ dẫn đường cho binh đoàn chủ lực hành quân chiến đấu.

Cũng tại Cầu Cháy, đầu tháng 3 năm 1975, đồng chí Huỳnh Minh Nhựt, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Đức được đồng chí Bí thư Khu ủy giao nhiệm vụ và kế hoạch phối hợp  hoạt động. Đối với tỉnh Tuyên Đức, để phối hợp với chiến trường Lâm Đồng, phải tập trung lực lượng  giải phóng đoạn đường 21 kéo dài từ Đạ Me đến Phú Sơn, tạo thế bàn đạp cho quân chủ lực chuẩn bị giải phóng Đà Lạt và toàn bộ tỉnh Tuyên Đức. Theo sự chỉ đạo của trên, Tỉnh đội Tuyên Đức có nhiệm vụ cử cán bộ đến bến phà Phi Có bắt liên lạc với bộ phận chuẩn bị chiến trường của Sư đoàn 10, đưa bộ phận này về chuẩn bị mở chiến dịch giải phóng Đà Lạt.

Do tình hình các chiến trường thay đổi quá nhanh nên Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Đức thay đổi kế hoạch  hoạt động. Đại đội 810 không bố trí đứng trên đường 21 kéo dài mà chuyển hai trung đội (thiếu) sang chiếm lĩnh địa bàn xã Xuân Trường để phá ấp, phá kèm làm chủ đường 11, một trung đội còn lại cùng các đội công tác  hoạt động trên địa bàn xã Hiệp Thạnh. Khi nào được tin ta giải phóng thị xã B’Lao thì các đơn vị phải kịp thời chiếm lĩnh và làm chủ xã Hiệp Thạnh, xã Xuân Trường nhằm tạo thế uy hiếp Đà Lạt, buộc địch phải rút lực lượng ở các vùng phụ cận về giữ Đà Lạt, tạo điều kiện cho ta giải phóng toàn bộ vùng nông thôn ở Đức Trọng, Đơn Dương. Thực hiện phương án đó, Thường trực Tỉnh uỷ và Thường trực Bộ Chỉ huy Tỉnh đội chuyển ra đứng chân tại hậu cứ tiền phương, sau đó chuyển ra gần Núi Chai (Đức Trọng) để theo dõi tình hình chuyển biến và chỉ đạo kịp thời các mũi công tác. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp giao nhiệm vụ cho thị ủy Đà Lạt theo ba tình huống. Chấp hành chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy, thị ủy Đà Lạt chỉ đạo cán bộ, đảng viên và cơ sở bên trong chuẩn bị mọi mặt để phối hợp với lực lượng  chủ lực tiến công giải phóng Đà Lạt, phát động quần chúng  nổi dậy phá chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng.

Trong khi ta chuẩn bị giải phóng tỉnh Lâm Đồng, ngàyản tháng 3 năm 1975, bộ đội chủ lực Miền giải phóng thị xã Gia Nghĩa và tỉnh Quảng Đức, tàn quân địch ở đây theo đường 8 rút về Lâm Đồng. Bộ đội địa phương huyện và du kích xã 5 kịp thời chặn đánh, tiêu diệt 150 tên, bắt sống 170 tên, thu và phá hủy nhiều vũ khí, xe quân sự. Tình hình đó càng làm cho quân địch ở Lâm Đồng hoang mang lo sợ.

Ngày 25 tháng 3 năm 1975, sau khi giải phóng La Ngà, Định Quán trên đường 20, Trung đoàn 14 cùng với các đơn vị pháo cao xạ, pháo binh và sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 7 hành quân theo đường 20 chiếm lĩnh các vị trí phía Tây Bắc Bảo Lộc. Ngày 26 tháng 3 toàn bộ đội hình chiến dịch đã đến các vị trí quy định. Lúc 14 giờ ngày 27 tháng 3, tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 209 nổ súng đánh chiếm chi khu Đạ Huoai, cùng lúc đó đại đội 11 của tiểu đoàn 6 và 3 xe tăng tiến công đồn Mađagui và tiêu diệt các chốt từ Mađagui đến chi khu Đạ Huoai. Sau khi chiếm được chi khu Đạ Huoai, tiểu đoàn 5 đánh chiếm và bảo vệ cầu Đậm M’Rế, cầu Đạ Huoai để đội hình của sư đoàn hành quân. Phát huy uy lực của xe tăng và pháo binh, các đơn vị hành quân bằng cơ giới lần lượt tiêu diệt các đồn bốt ở Kim Hưng, Đậm M’Rế, đèo Ba Cô, nhanh chóng vượt qua đèo Bảo Lộc tiến về thị xã B’Lao. Khi đoàn xe tăng đến cách trung tâm thị xã B’Lao 7 km, bọn địch phát hiện và bắn pháo chặn đường làm một chiếc bị trúng đạn, song các đơn vị vẫn kiên quyết tiến lên, vừa tiến công uy hiếp địch, vừa củng cố đội hình, chuẩn bị đồng loạt tiến công vào thị xã.

Đúng 6 giờ sáng ngày 28 tháng 3, các đơn vị xe tăng, pháo binh, bộ binh đồng loạt tiến công đánh vào thị xã B’Lao. Từ trên đỉnh dốc Con Ó (phía Bắc thị xã B’Lao) pháo 130 ly của ta nã đạn vào trung tâm thị xã. Ngay loạt đạn đầu đã bắn rất chính xác vào tòa tỉnh trưởng, phá huỷ 1 máy bay trực thăng. Tên tỉnh trưởng ngụy cùng với quân lính tháo chạy hoảng loạn theo đường 20 về phía Di Linh, Đà Lạt. Bộ binh và xe tăng ta tiến vào chiếm lĩnh và làm chủ hoàn toàn thị xã, 8 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phấp phới tung bay trên cột cờ toà tỉnh trưởng ngụy. Sau đó, đoàn cán bộ do đồng chí Nguyễn Xuân Du (tức Tám Cảnh), Phó Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng vào tiếp quản thị xã trước sự đón tiếp hân hoan, phấn khởi của đồng bào. Nhờ có sự chuẩn bị trước và phối hợp chặt chẽ nên chi bộ và cơ sở bên trong đã nhanh chóng ổn định tình hình, kêu gọi binh lính ra trình diện và nộp súng, các cơ sở kinh tế, văn hoá trong thị xã được bảo vệ an toàn. Khi lực lượng bên ngoài tấn công địch, chi bộ lãnh đạo cơ sở tại nhà máy điện B’Lao nổi dậy làm chủ nhà máy nên nguồn điện vẫn được duy trì, bảo đảm ánh sáng cho thị xã.

Khi được tin quân ta đã giải phóng thị xã B’Lao thì bọn địch ở Di Linh vô cùng hoang mang, giao động, đại đội 5 trinh sát của Quân khu chớp thời cơ đánh chiếm chi khu và quận lỵ Di Linh, đồi Pát-xtơ. Bọn địch ở đây tan rã  nhanh chóng và rút chạy theo đường 20 lên Tam Bố- Đại Ninh. Nhưng ngày 29 tháng 3, địch thấy lực lượng  ta ở Di Linh quá ít, chúng tập hợp số tàn quân được 1 tiểu đoàn và xin tiểu khu Tuyên Đức chi viện thêm 1 tiểu đoàn 302, một trung đội pháo 105 ly để phản kích chiếm lại thị trấn Di Linh. Khi thực lực này hành quân đến Đồng Đò (Di Linh) thì bị chủ lực quân Khu 6 chặn đánh, nhiều tên địch bị tiêu diệt, ta phá huỷ nhiều xe quân sự, thu được 2 khẩu pháp 105 ly, số địch còn lại hoảng loạn chạy vào rừng và một số chạy về lại Tuyên Đức. 15 giờ ngày 29 tháng 3 một bộ phận của Sư đoàn 7 (quân chủ lực) có cả xe bọc thép đã đến khu vực Liên Đầm, cách thị trấn Di Linh 5 km, nhưng vì chưa bắt được liên lạc với lực lượng  ta trong thị trấn nên chưa triển khai đánh địch. Mặc dù trong tình thế bị bao vây và quân địch đông gấp nhiều lần, đại đội 5 trinh sát của ta vẫn ngoan cường chiến đấu, giữ vững các vị trí đã chiếm được. Chiều ngày 30 tháng 3, tiểu đoàn 840 thuộc trung đoàn 812 (chủ lực Quân khu 6) hành quân cấp tốc đến khu vực Đăng Rách (Nam thị trấn Di Linh 3 km) thì bắt được liên lạc và hiệp đồng với lực lượng  ta tại Di Linh phản công địch. Về sư đoàn 7, do yêu cầu nhiệm vụ mới, đã chuyển hướng hành quân, chỉ để lại một trung đội xe tăng, một trung đội pháo phối hợp với các lực lượng  địa phương tiếp tục đánh địch. Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 3, lực lượng của ta liên tục tiến công, đánh tan lực lượng  địch, giải phóng hoàn toàn thị trấn Di Linh, sau đó tiếp tục truy kích địch chạy về phía Tuyên Đức.

Trong khi lực lượng vũ trang tiến công giải phóng thị xã B’Lao và thị trấn Di Linh, thì ở các khu tập trung, ấp chiến lược, cơ sở và cốt cán tại chỗ đã phát động quần chúng  nổi dậy diệt ác, phá kèm. Hàng vạn đồng bào các dân tộc ít người bị bọn địch dồn vào các khu tập trung, ấp chiến lược nhanh chóng phá banh ấp, trở về buôn, làng cũ.

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tỉnh Lâm Đồng (cũ) hoàn toàn được giải phóng.

Sau khi tỉnh Lâm Đồng được giải phóng, Bộ chỉ huy tiền phương của Khu ủy và Quân khu 6 quyết định tiếp tục tấn công, truy kích địch, thực hiện kế hoạch giải phóng Tuyên Đức-Đà Lạt. Đồng chí Đỗ Quang Thắng, Ủy viên Thường vụ Khu ủy được phân công đi trước đến địa bàn Tuyên Đức để chỉ đạo và phối hợp các lực lượng thực hiện kế hoạch đó. Chiều ngày 2 tháng 4 năm 1975, lực lượng  chủ lực của Quân khu hành quân đến khu vực Nam cầu Đại Ninh (ranh giới hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng cũ) thì phải dừng lại vì khi rút chạy từ Di Linh về Đà Lạt, địch đã đánh sập cầu Đại Ninh vào lúc 18 giờ ngày 31 tháng 3 năm 1975, đến 20 giờ cùng ngày địch lại đ1nh sập cầu Phi Nôm hòng ngăn chặn cuộc tiến quân của ta. Nhưng cơ sở cách mạng tại chỗ đã kịp thời hướng dẫn quần chúng đưa đến hàng chục chiếc thuyền chở bộ đội qua sông và hàng chục xe ô tô để đón bộ đội vào giải phóng thị trấn Tùng Nghĩa, quận lỵ Đức Trọng ngay trong đêm 2 tháng 4 năm 1975. Toàn bộ quân địch ở đây tan rã nhanh chóng, Uỷ ban quân quản huyện Đức Trọng và thị trấn Tùng Nghĩa đựơc thành lập, do đồng chí Nguyễn Xuân Khanh làm Chủ tịch.

Các đồng chí lãnh đạo Khu ủy và Bộ chỉ huy tiền phương cùng theo sát cuộc hành quân của bộ đội đã kịp thời động viên cán bộ, chiến sỹ ta và ra lệnh tiếp tục tiến lên giải phóng thị xã Đà Lạt, một sào huyệt cuối cùng và rất quan trọng của địch ở Tây Nguyên.

3 giờ sáng ngày 3 tháng 4 năm 1975, lực lượng của ta đã tiến đến khu vực ngã ba Phi Nôm và chia làm hai mũi: tiểu đoàn 840 tiến theo đường 21 về thị trấn D’Ran, nhưng bọn địch ở đây đã bỏ chạy, đơn vị nhanh chóng tiếp quản chi khu, quận lỵ và thành lập Uỷ ban quân quản huyện Đơn Dương. Tiểu đoàn 186 theo đường 20 lên Đà Lạt. Đến 8 giờ sáng ngày 3 tháng 4, đơn vị đã đến ngã tư cây xăng Kim Cúc, cửa ngõ nội ô Đà Lạt thì gặp một số cán bộ cơ sở của ta. Ngay sau đó, một phân đội của tiểu đoàn cùng với số cán bộ, cơ sở Đà Lạt vào chiếm lĩnh toà hành chính tỉnh của ngụy quyền. 8 giờ 20 phút ngày 3 tháng 4 năm 1975, cờ cách mạng tung bay tại cơ quan đầu não của nguỵ quyền tỉnh, thị xã Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức đã hoàn toàn giải phóng. Tiểu đoàn nhanh chóng triển khai việc chiếm lĩnh tiếp quản, bảo vệ các cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá, kỹ thuật trong thị xã, tổ chức công tác giữ gìn trật tự, truy quét bọn tàn quân của địch, trừng trị bọn lưu manh côn đồ đang cướp phá, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Tỉnh ủy Tuyên Đức và thị ủy Đà Lạt đã triển khai kế hoạch  hoạt động phối hợp theo sự chỉ đạo của Khu ủy, nhưng trong chỉ đạo, công tác nắm tình hình địch và thông tin liên lạc không chặt chẽ trong lúc tình hình diễn biến rất nhanh. Vì vậy, từ đêm 31 tháng 3 bọn địch ở Đà Lạt và Đức Trọng đã rút chạy nhưng các lực lượng của tỉnh, của Đà Lạt và Đức Trọng không nắm được nên không kịp thời vào chiếm lĩnh và tiếp quản. Tuy vậy, khi thấy địch hoang mang, giao động, tháo chạy, thì một số đảng viên, cơ sở cách mạng tại chỗ đã tổ chức quần chúng  hành động, thành lập các tổ chức tự quản, giữ gìn trật tự, kêu gọi binh lính, sĩ quan và nhân viên ngụy quyền nộp vũ khí, tổ chức bảo vệ những cơ sở kinh tế, kỹ thuật quan trọng như: Nhà máy điện, Viện Patxtơ, Viện nguyên tử, Nha địa dư, Ngân hàng, Đài phát thanh, Nhà máy nước, Bưu điện, Kho bạc, kêu gọi quần chúng không di tản theo địch.

Về lực lượng vũ trang địa phương và các đội công tác của Tuyên Đức, Đà Lạt, trong những ngày 1 và 2 tháng 4 năm 1975 cũng đã đánh địch và  hoạt động một số nơi ở vùng ven và ngoại ô Đà Lạt như: đại đội 810 đánh chiếm làm chủ vùng Xuân Trường, rồi phát triển lên khu vực Sào Nam, Tây Hồ, các đội công tác  hoạt động ở một số ấp phía Bắc Đà Lạt…

Tối ngày 3 tháng 4 năm 1975, tại số nhà 15 đường Trần Hưng Đạo đã tiến hành cuộc họp có đại diện Thường vụ Khu ủy và Quân khu 6, để thành lập Uỷ ban quân quản tỉnh Tuyên Đức và Uỷ ban quân quản thị xã Đà Lạt, phân công cán bộ trực tiếp chỉ đạo từng khu vực để ổn định tình hình, thành lập chính quyền cách mạng ở cơ sở và công bố bản mệnh lệnh số 1 gồm 10 điểm nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, giữ gìn trật tự, an ninh cho thị xã.

Trưa ngày 4 tháng 4 năm 1975, các lực lượng tỉnh Tuyên Đức và thị ủy Đà Lạt vào thị xã, cùng với các lực lượng đã vào tiếp quản trước đó tiếp tục tiến hành công tác ổn định tình hình.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức đã kết thúc thắng lợi. Với sự chi viện to lớn của bộ đội chủ lực Miền và lực lượng  vũ trang Quân khu 6, quân và dân hai tỉnh tiêu diệt và làm tan rã hơn 27.000 tên địch, đánh chiếm 10 tiểu khu, chi khu, quận lỵ và hàng trăm đồn bót, giải phóng trên 300.000 dân. Sau khi giải phóng, quân và dân hai tỉnh tiếp tục truy quét bọn tàn quân, kêu gọi 20.757 ngụy quân, ngụy quyền trình diện, truy bắt 1.230 tên, thu 11.355 súng các loại. Chính quyền cách mạng các cấp đựơc thành lập, tổ chức lực lượng  tự vệ để ổn định trật tự trị an, đồng bào ở một số nơi như Đà Lạt, Tùng Nghĩa, Thanh Bình… đi “di tản” lần lượt trở về.

Từ những ngày đầu sau giải phóng, khi lực lượng sư đoàn 10 từ vùng Bác Ái đến D’Ran, nhân dân đã tích cực ủng hộ lương thực, thực phẩm giúp bộ đội; tại Đà Lạt đã cấp hàng ngàn lít xăng cho xe tăng, xe cơ giới, huy động trên 100 xe khách, xe tải làm cầu tạm ở Đại Ninh chở bộ đội qua đường số 8 Gia Nghĩa tập kết với quân đoàn 3.

Hỗ trợ bộ chỉ huy cánh quân phía Đông đi qua Bác Ái lên Đà Lạt sau đó di chuyển xuống Bình Thuận (theo đường số 8) để chuẩn bị giải phóng các tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy, Bà Rịa và tiến vào phía Nam.

Tại Nha Địa dư đã khẩn trương in hàng vạn tấm bản đồ thành phố Sài Gòn, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chuyển cho đại quân ta chuẩn bị mở chiến dịch Hồ Chí Minh.

Hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức được giải phóng tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chủ lực tiếp tục tiến công địch, giải phóng các tỉnh còn lại ở Khu 6, mở thông hai quốc lộ 20 và số 1 cho các binh đoàn lớn của ta hành quân đánh chiếm phía Đông Bắc Sài Gòn, kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Từ khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27 tháng 1 năm 1973) đến khi hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức được hoàn toàn giải phóng là một giai đoạn đấu tranh gay go quyết liệt giữa ta và địch, nhưng Đảng bộ hai tỉnh đã quán triệt quan điểm bạo lực, tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, phát huy tinh thần tự lực, tự cường để hoàn thành mọi nhiệm vụ. Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nên cán bộ, đảng viên, chiến sỹ đã quyết tâm khắc phục khó khăn, gian khổ để bám trụ địa bàn, đi sát cơ sở, quần chúng . Vùng căn cứ của tỉnh ngày càng được củng cố và mở rộng đã trở thành hậu phương vững chắc, nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch. Trong chỉ đạo đã vận dụng phương châm hai chân ba mũi để tấn công địch, bộ đội địa phương, đội công tác, dân quân du kích, du kích mật, tự vệ mật đều đánh địch có kết quả.

Song trong lãnh đạo và chỉ đạo, Đảng bộ hai tỉnh còn có nhược điểm là: trước sự phát triển nhanh chóng của tình hình và yêu cầu của giai đoạn mới, nhưng ở địa phương vẫn chưa phát huy đầy đủ và kịp thời sức mạnh tổng hợp của quần chúng. Những lúc tình hình có nhiều khó khăn, ác liệt, công tác  xây dựng Đảng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa được kịp thời nên cá biệt còn có người bỏ nhiệm vụ, đầu hàng địch. Trong thời kỳ trước khi ký Hiệp định Paris và chiến dịch mùa khô 1974-1975 có bộ phận chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Để thắt chặt hơn nữa tinh thần kết nghĩa giữa hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Tuyên, đầu tháng 5 năm 1974, đoàn đại biểu phụ nữ Lâm Đồng, Tuyên Đức ra thăm và dự Đại hội phụ nữ tỉnh Hà Tuyên. Sau khi được tin hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức hoàn toàn giải phóng, đồng bào các dân tộc Hà Giang gởi thư chúc mừng, tổ chức mít tinh mừng chiến thắng và phát động phong trào thi đua ủng hộ Lâm Đồng, Tuyên Đức nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống.

Tóm lại, qua 15 năm kết nghĩa, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã có nhiều hoạt động thiết thực. Hưởng ứng phong trào thi đua “Vì miền Nam ruột thịt, vì Lâm Đồng, Tuyên Đức thân yêu”, tỉnh Hà Giang có những “cánh đồng Lâm Đồng kiểu mẫu”, “Năm tấn thắng Mỹ”, thành lập “Công trường Lâm Đồng” và những cuộc vận động quyên góp ủng hộ Lâm Đồng, Tuyên Đức mang lại hiệu quả thiết thực. Tổ quốc gọi, hàng vạn thanh niên các dân tộc tỉnh Hà Giang lên đường nhập ngũ, đặc biệt hai tiểu đoàn mang tên Lâm Đồng thành lập năm 1968 và năm 1972[69] biểu hiện tình nghĩa sắt son và tình cảm của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Giang đối với hai tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.


[1] Lệnh ngừng bắn ở Cực Nam Trung bộ và Nam Tây Nguyên có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 1954 và đến ngày 5 tháng 10 năm 1954 phải tiến hành xong việc chuyển quân tập kết.

[2] { Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước. tập I

[3] { NXB Sự Thật, Hà Nội-1985, tr.51, 52, 53.

[4] Đến tháng 6 năm 1956, tại Lâm Đồng địch đã mở 80 lớp tố cộng với gần 20.000 người cho quần chúng nhân dân và 19 lớp với hơn 10.000 người cho nguỵ quyền cấp huyện, xã.

[5] Sư đoàn 5 Nùng từ miền Bắc chạy vào đóng hậu cứ ở Sông Mao (Bình Thuận)

[6] Một số Văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 68

[7] Một số Văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 70

[8] Từ tháng 12 năm 1952, huyện uỷ Di Linh trực thuộc sự chỉ đạo của Bình Thuận.

[9] Thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc.

[10] Nay thuộc xã Sơn Điền, huyện Di Linh

[11] Đồng chí Đỗ Đạt Khoảng Bí thư, đồng chí Đoàn Quang, Nguyễn Trung uỷ viên

[12] Tháng 8 năm 1954, nhiều trí thức ở Sài Gòn thành lập “Phòng trào hoà bình Sài Gòn-Chợ Lớn”, mục tiêu đấu tranh của phong trào là nhằm củng cố hoà bình ở Đông Dương, bảo đảm quyền tự do dân chủ, thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do.

[13] Ban cán sự Đảng liên huyện Bảo Lộc-Di Linh gồm 5 đồng chí, do đồng chí Trần Soạn, nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Ninh Thuận, làm Bí thư.

[14] Những sự kiện lịch sử Đảng, tập III, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, trang 58

[15] Liên tỉnh 3 gồm các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ)

[16] Chi bộ này đến năm 1961 được Khu uỷ 6 công nhận. trong chi bộ có một đồng chí nguyên là Uỷ viên Ban cán sự Đảng liên huyện Bảo Lộc-Di Linh trước đó bị địch bắt và đã được trả tự do.

[17] {Sách đã dẫn

[18] {trang 101, 102

[19] Đồng chí Lê Thanh Liêm (tức Mười Liêm), nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Khánh Hoà làm Bí thư Ban cán sự Đảng Đà Lạt

[20] {Một số Văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước. tập I,

[21] {NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.116, 117.

[22] Liên Tỉnh uỷ 4 gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc.

[23] Theo tài liệu “Ban biên niên sự kiện lịch sử Đảng bộ Hà Giang-Lâm Đồng-Tuyên Đức kết nghĩa”

[24] Những sự kiện lịch sử Đảng, tập III. NXB thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr. 132

[25] Tiếp tục xác minh thêm về địa điểm và thời gian. Có ý kiến cho rằng hai đội này gặp nhau ở Bù Gia Mít tỉnh Phước Long.

[26] {Một số Văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước

[27] {tập I. NXB Sự thật, Hà Nội-1985, tr. 128, 129.

[28] Sách đã dẫn, trang 213.

[29] Sách đã dẫn, trang 214.

[30] Tỉnh Lâm Đồng (cũ) bao gồm các huyện: Di Linh, Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên hiện nay.

[31] Ban cán sự B7 gổm 3 đồng chí, do đồng chí Trần Quang Sang (tức Ba Thọ) làm Bí thư, các đồng chí Nguyễn Xuân Du (tức Tám Cảnh), Lê Đạo (tức Ba Đạo), uỷ viên.

[32] Tỉnh uỷ Lâm Đồng lúc này trực thuộc Trung ương Cục miền Nam

[33] Mỗi vùng thành lập Ban cán sự K hoặc T, tương đương với huyện uỷ.

[34] Nay là xã Đinh Trang Hoà, Di Linh.

[35] Đồng chí Lam Sơn (tức Ma Hương) dân tộc Cơ Ho, nghỉ hưu và đã mất tại xã Sơn Điền, huyện Di Linh.

[36] Sách đã dẫn, trang 282, 283.

[37] Cuối năm 1963, địa bàn Khu 6 được điều chỉnh lại gồm 6 tỉnh: Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức và Phước Long. Căn cứ của Khu chuyển về lưu vực sông Đồng Nai, giữ Lâm Đồng và Phước Long.

[38] Trên đoạn đường ta làm chủ, bọn ngụy quân, ngụy quyền phải thừa nhận: ở Sài Gòn, Đà Lạt thì thấy chính phủ quốc gia không còn nữa, người của Mặt trận hoàn toàn làm chủ. (Trích : tham luận tại Hội nghị tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Quân khu 6, Tr. 316).

[39] Địa bàn tỉnh Tuyên Đức gồm có thị xã Đà Lạt và các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương.

[40] Theo tài liệu của địch số 1342-TĐ, chính quyền địch ở Tuyên Đức dự định bước đầu sẽ xây dựng 31 ấp chiến lược và chia làm 4 giai đoạn. Giai đoạn 1 thực hiện các ấp điển hình, giai đoạn 2 thực hiện ác ấp loại A (loại địch cho là hoàn toàn an ninh và gần thị trấn, tỉnh lỵ), giai đoạn 3 thực hiện các ấp loại B (loại ấp có an ninh, các quận có thể kiểm soát), giai đoạn 4 thực hiện loại ấp kém an ninh.

[41] Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 3 (1954-1975), NXB Thông tin lý luận Hà Nội 1985, tr. 356.

[42] {Sách đã dẫn, tr. 357, 363

[43] {Sách đã dẫn, tr. 357, 363.

[44] Báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Quân Khu 6, dự thảo tập I, tháng 10 năm 1984, tr. 150.

[45] Gồm có già làng, chủ rừng, thầy cứng…

[46] Phong trào tăng gia sản xuất, tiết kiệm; phong trào du kích chiến tranh; phong trào thoát ly đi bộ đội, vào cơ quan; phong trào đi dân công phục vụ phía trước, ủng hộ bộ đội; phong trào học tập văn hoá, vệ sinh phòng bệnh.

[47] Trước đây do phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan nên đồng bào dân tộc ít người, nhất là phụ nữ ít khi đi xa nhà. Sau cuộc vận động cải cách dân chủ và thực hiện 5 phong trào thi đua, mọi người đều hăng hái đi dân công phục vụ phía trước, có đợt từ 15 đến 20 ngày trong một tháng.

[48] Thiếu lương thực, thuốc chữa bệnh, vải mặc và muối.

[49] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (tóm tắt), NXB Sự thật, Hà Nội 1985, tr. 202.

[50] Số cơ sở này thuộc sự chỉ đạo của Ban Trí vận Mặt trận khu uỷ Sài Gòn-Gia Định (T4).

[51] Thị trưởng Đà Lạt lúc này là luật sư Nguyễn Thị Hậu.

[52] Tỉnh trưởng Tuyên Đức lúc này là Trung tá Trần Văn Phấn.

[53] Đến gần ngày tổng tiến công, Quân khu 6 tăng cường cho tỉnh Tuyên Đức một đại đội bộ binh (C815) hoạt động trên địa bàn huyện Đơn Dương.

[54] Báo Hà Giang số 488 ngày 16 tháng 8 năm 1967.

[55] Trích: Những sự kiện Lịch sử Đảng, tập 3, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội 1985, trang 452.

[56] Phượng Hoàng là một tổ chức tâm lý chiến và tình báo do Mỹ tổ chức.

[57] Xà bu là một loại cây rừng có chất bột.

[58] Bảy khả năng đó là: chống càn bảo vệ căn cứ; chống biệt kích; bắn máy bay; đánh phá cắt giao thông; phối hợp với phía trước và phía sau; phục vụ phía trước; bổ sung lực lượng cho các đơn vị vũ trang.

[59] Trích Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ nhất.

[60] TK là chiến dịch tập kích chiến lược.

[61] Trích Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Đức lần thứ nhất. Tài liệu lưu trữ số 154/V8.

[62] Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 3 (1954-1975), NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, Tr. 679.

[63] Sách đã dẫn, trang 671, 672

[64] Chỉ thị 02 ngày 19 tháng 1 năm 1973, Chỉ thị 03 ngày 14 tháng 2 năm 1973.

[65] Trích: Nghị quyết Hội nghị Khu ủy 6 lần thứ 15 (tháng 5 năm 1973).

[66] Tên hiệu trưởng nói trước học sinh: “chúng mày chỉ có “tổ cò” “chứ tổ quốc gì?”.

[67] Hai huyện Tánh Linh, Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Tuy nay là tỉnh Thuận Hải.

[68] Có 1 chi bộ với 7 đảng viên, 29 đoàn viên, 7 tự vệ, 7 đoàn viên công đoàn.

[69] Do yêu cầu chung nên cấp trên điều hai tiểu đoàn này đi làm nhiệm vụ ở nơi khác.

KẾT LUẬN

 

Tháng 4 năm 1930, chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Lâm Đồng ra đời, trải qua các giai đoạn cách mạng vừa xây dựng tổ chức và tập hợp lực lượng quần chúng, vừa dẫn dắt phong trào trên bước đường tranh đấu giành lại lợi quyền. Đảng bộ Lâm Đồng đã từng bước trưởng thành và phát huy vai trò lãnh đạo trong suốt 45 năm qua.

Giữa lúc chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng Việt Nam đang trỗi dậy mạnh mẽ, ý thức giai cấp của công nhân và nông dân Việt Nam đang thức tỉnh, sự ra đời của Đảng càng làm cho sự thức tỉnh đó thêm chín muồi. Vừa mới ra đời, tổ chức Đảng đã lãnh đạo ngay phong trào đấu tranh quyết liệt với thực dân, phong kiến.

Từ năm 1930 đến năm 1935, là thời kỳ diễn tập của đội quân cách mạng hoàn toàn mới ở nước ta do Đảng tổ chức. Qua thử lửa đã thể hiện rõ nghị lực cách mạng phi thường của đội tiền phong và đạo quân chủ lực của cách mạng trong thời đại mới. Đồng thời, qua thực tiễn đã khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Từ năm 1936 đến năm 1945, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng tuy phát triển không đều, không liên tục, có lúc cao, lúc thấp, có lúc lắng hẳn, song vai trò lãnh đạo của Đảng đã có sự tác động tích cực trong mọi tầng lớp nhân dân, thông qua các cuộc vận động cách mạng, kết hợp hoạt động công khai với hoạt động bí mật, Đảng đã tôi luyện cho đội ngũ cán bộ của mình về nghệ thuật tổ chức quần chúng và lãnh đạo đấu tranh ngày càng phong phú và sinh động để từng bước chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đổ nền thống trị của đế quốc, phong kiến giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình 15 năm đấu tranh đầy hi sinh và vô cùng anh dũng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng đầu tiên ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng chỉ tồn tại có 158 ngày nhưng ý nghĩa của những cuộc đấu tranh là vô cùng to lớn. Qua thực tiễn của phong trào, nhân dân Lâm Đồng nhận rõ và tin tưởng vào sức mạnh của mình, sự sụp đổ không thể tránh khỏi của kẻ thù, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Trong suốt 30 năm, từ năm 1945 đến năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Lâm Đồng tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Lâm Đồng cùng cả miền Nam đi trước về sau, vừa vinh dự tự hào, vừa mang trên mình trách nhiệm nặng nề đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước. Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, do vị trí địa lý nằm trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều coi Lâm Viên  và Đồng Nai Thượng là địa bàn trọng điểm càn quét bình định của chúng. Phong trào kháng chiến có lúc bị địch tập trung lực lượng đánh phá ác liệt, đẩy lực lượng ta ra khỏi các trung tâm đô thị. Những lúc như vậy phong trào cách mạng trong tỉnh bị tổn thất và gặp phải muôn vàn khó khăn thiếu thốn, đói cơm, lạt muối thường xuyên xẩy ra, trước những tình thế đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng phải phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường để vươn lên cùng sự phát triển chung của phong trào cách mạng. Được tôi luyện và thử thách qua 30 năm lãnh đạo chiến tranh cách mạng, kiên trì thực hiện các mục tiêu do Đảng đề ra, tin tưởng tuyệt đối đường lối của Đảng và vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương, Đảng bộ Lâm Đồng đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân hoàn thành vẻ vang các nhiệm vụ lịch sử của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, xây dựng và bồi đắp nên truyền thống cách mạng, đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước mà nhân dân Lâm Đồng đạt được, bắt nguồn trước hết từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam; nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài giỏi của Trung ương Đảng, của Liên khu ủy 5, Khu ủy 6, Ban Cán sự cực Nam, sự chi viện, giúp đỡ to lớn về sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc, của tình đoàn kết chiến đấu chung một chiến trường của Đảng bộ và quân dân các tỉnh Cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn và nghĩa tình sâu nặng của đồng bào và chiến sỹ cả nước. Nhân dân các dân tộc  Lâm Đồng, cả những thế hệ hôm nay và mai sau không thể nào quên những năm tháng kháng chiến gian khổ và ác liệt đã có hàng nghìn người con ưu tú ở mọi miền đất nước đã đến Lâm Đồng cùng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẽ bùi, trong đó có nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh hoặc đã để lại một phần xương máu của mình trên mảnh đất cao nguyên này, những hy sinh cao cả đó đã góp phần làm nên truyền thống cách mạng vẻ vang của địa phương chúng ta.

Lòng trung thành vô hạn, quyết tâm cách mạng cao, năng lực sáng tạo phong phú, tinh thần phấn đấu hy sinh bền bỉ và ý chí tự lực, tự cường của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

Quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng, với quan điểm dựa vào sức mình là chính và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng bộ Lâm Đồng đã động viên, tổ chức và lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt kinh, thượng, lương, giáo đoàn kết thành một khối, tất cả đều tham gia kháng chiến, vận dụng linh hoạt mọi hình thức và phương pháp đấu tranh, vừa đánh địch vừa xây dựng mình, biến lực lượng cách mạng từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, giành thắng lợi từng bước, từng bộ phận, tiến lên giành toàn thắng. Qua rèn luyện thử thách, Đảng bộ Lâm Đồng không ngừng được củng cố, xây dựng và trưởng thành, trở thành hạt nhân lãnh đạo, là bộ tham mưu có kinh nghiệm của phong trào cách mạng, được nhân dân tin yêu, gắn bó và đùm bọc.

Nhân dân các dân tộc Lâm Đồng trong suốt 45 năm kháng chiến, cứu nước từ vùng căn cứ giải phóng đến vùng địch tạm kiểm soát hay trong các ngục tù của địch luôn hướng về cách mạng, hướng về lý tưởng độc lập tự do, hướng về Bác Hồ. Đó là nguồn sức mạnh vô biên, nguồn động viên cổ vũ to lớn để nhân dân giữ vững niềm tin, đoàn kết keo sơn, đứng vững và vượt qua mọi thử thách, tự nguyện hy sinh vì thắng lợi của cách mạng.

Lực lượng vũ trang Lâm Đồng trong kháng chiến bao gồm ba thứ quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, không ngừng được củng cố và trưởng thành, phát huy bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng và truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng địa phương, góp phần cùng nhân dân làm nên những chiến công vẻ vang.

Thực tiễn 45 năm lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương của Đảng bộ Lâm Đồng rất phong phú, hiện nay chưa đủ điều kiện để tổng kết, đánh giá một cách toàn diện và chính xác, trước mắt từ những sự kiện lịch sử đã tổng hợp trong cuốn sách này, chúng ta chỉ có thể bước đầu rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Nắm vững đường lối, phương châm, phương pháp cách mạng của Đảng, vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương

Đường lối và phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng thể hiện xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng, tư tưởng chiến lược tấn công, quan điểm quần chúng và độc lập tự chủ. Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ Lâm Đồng đã có sự vận dụng sáng tạo trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị của địa phương. Là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Tây Nguyên gắn liền với Đông Nam Bộ và thành phố Sài Gòn, trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế và quân sự của ngụy- quyền, Lâm Đồng có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ cách mạng, xây dựng và bảo vệ thông suốt hành lang chiến lược Bắc - Nam, nhằm tạo thế, tạo lực cho phong trào cách mạng địa phương vừa đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam.

Nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng là việc hình thành hệ thống tổ chức lãnh đạo, từ Liên Khu ủy 5 đến Ban cán sự Cực Nam, Liên Tỉnh ủy 3, Khu ủy 6 đã rất quan tâm và chú trọng việc hình thành tổ chức Đảng ở Lâm Đồng. Từ chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên đến Ban cán sự Đảng Đà Lạt, Ban cán sự Đảng hai tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Ban cán sự Đảng Di Linh... và từ cuối năm 1961 trở đi lần lượt thành lập Đảng bộ Lâm Đồng (cũ), và Đảng bộ Tuyên Đức. Ban cán sự Đảng K1, K2, K3, K4, T29, Ban cán sự Đảng các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương v.v... Với chủ trương mở phong trào đến đâu hình thành tổ chức lãnh đạo đến đó, nên trong quá trình kháng chiến hầu hết các địa bàn trong tỉnh ở đâu có phong trào và cơ sở cách mạng thì ở đó đều xây dựng được tổ chức Đảng để chỉ đạo.

Cùng với việc xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, linh hồn của phong trào cách mạng, Đảng bộ Lâm Đồng rất coi trọng nhiệm vụ xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng. Chiến trường Lâm Đồng trải qua hai cuộc kháng chiến không phải là địa bàn hoạt động của các đơn vị chủ lực lớn, do đó việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh có ý nghĩa rất quan trọng. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, lực lượng vũ trang Lâm Đồng từng bước trưởng thành ba thứ quân phối hợp chặt chẽ, hoạt động đánh địch trên mọi địa bàn, cả phía trước và phía sau, vừa bảo vệ vững chắc căn cứ cách mạng, vừa đánh vào hậu phương và các căn cứ của địch trong các đô thị, hỗ trợ nhân dân các vùng địch tạm kiểm soát nổi dậy diệt ác, phá kèm giành quyền làm chủ. Lực lượng vũ trang địa phương đã thực sự là trụ cột của chiến tranh nhân dân, xứng đáng với lòng tin yêu, quý mến của nhân dân.

Vận dụng phương châm ba vùng chiến lược (vùng căn cứ giải phóng, vùng nông thôn, vùng đô thị) ở Lâm Đồng cũng thể hiện một nét riêng, do tính chất và hình thể chiến trường quy định, mỗi vùng tuy có yêu cầu nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm phục vụ yêu cầu chiến lược là xây dựng thế và lực của ta ngày mỗi mạnh thêm để tiến công địch, từng bước mở rộng ảnh hưởng, uy thế và quyền làm chủ của cách mạng, vây ép địch buộc chúng thu hẹp dần vùng kiểm soát, tiến lên tấn công kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giành thắng lợi cuối cùng.

Vùng căn cứ giải phóng của cách mạng, chủ yếu là địa bàn vùng núi, địa thế hiểm trở, phạm vi rộng, dân số ít, là địa bàn cực kỳ trọng yếu đối với sự nghiệp kháng chiến. Đây là hình ảnh thu nhỏ của xã hội mới dưới chính quyền dân chủ nhân dân. Được sự trực tiếp lãnh đạo và giáo dục của các tổ chức Đảng cùng với tính ưu việt của chế độ dân chủ và những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội do cách mạng đem lại; nhân dân vùng căn cứ giải phóng càng phấn khởi, hăng hái, tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến”, “tất cả cho phía trước”. Đối với lực lượng vũ trang, đây vừa là địa bàn đứng chân xây dựng, huấn luyện, là căn cứ xuất phát để tấn công địch, vừa là địa bàn để căng lực lượng địch, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt sinh lực của chúng.

Vùng nông thôn là địa bàn rộng lớn, đông dân, nhiều tiềm lực kinh tế, đại bộ phận đều nằm dưới sự kiểm soát của địch, hầu hết nhân dân bị dồn vào những khu tập trung “ấp chiến lược” chủ yếu được bố trí ven các đường giao thông và chung quanh các đô thị, nhất là thị xã Đà Lạt và thị xã B’Lao, đây là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với ta và cả với địch, là vùng tranh chấp thường xuyên và quyết liệt giữa hai phía. Tuỳ tình hình so sánh lực lượng cụ thể mà sự kiểm soát của địch hay sự làm chủ của ta có thay đổi từng lúc. Đây cũng là nơi mà lực lượng vũ trang cách mạng hoạt động với nhiều hình thức phong phú, vừa tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch với hiệu suất chiến đấu cao, vừa hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kèm, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. Vùng nông thôn nói chung, nhất là vùng do cách mạng làm chủ và tranh chấp mạnh, là nơi cung cấp một phần quan trọng sức người, sức của cho kháng chiến.

Vùng đô thị trong kháng chiến là địa bàn chiến lược quan trọng, là những trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch. Toàn bộ cơ quan đầu não và hệ thống phục vụ chiến tranh đều tập trung ở đây. Song, cũng chính địa bàn này địch thường bộc lộ những điểm yếu, những sơ hở của chúng, nhất là do đặc điểm về địa lý và giao thông nên các trung tâm này dễ bị cô lập và uy hiếp. Đặc biệt, tại địa bàn thị xã Đà Lạt, trong suốt thời gian kháng chiến, cơ sở cách mạng thường xuyên tồn tại và phát triển trong công nhân, trí thức và trong các tầng lớp nhân dân lao động, là nơi thâm nhập nhanh nhất các chủ trương, chính sách của Đảng, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho cách mạng nhiều nhất. Vào từng thời điểm cụ thể, phong trào đấu tranh của nhân dân do các tổ chức Đảng chỉ đạo, đều diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt và duy trì liên tục, phong trào đó không những gây cho bọn địch tại chỗ nhiều tổn thất, bị động, lúng túng mà còn tác động dây chuyền đến các đô thị khác ở miền Nam.

Chiến trường Cực Nam Trung Bộ nói chung, tỉnh Lâm Đồng nói riêng do điều kiện địa lý tự nhiên, khắc nghiệt, đi lại khó khăn, lại xa sự chỉ đạo, chi viện của Trung ương nên gặp nhiều khó khăn, gian khổ. Một trong những thành tích cũng là kinh nghiệm có ý nghĩa trong sự nghiệp cách mạng của tỉnh là quán triệt và thực hiện sáng tạo quan điểm tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính. Các lực lượng cách mạng nêu cao quyết tâm chịu đựng khó khăn, kiên trì bám chiến trường, bám dân, bám phong trào, vừa đánh địch, vừa xây dựng và phát triển lực lượng, vừa sản xuất tại chỗ để nuôi sống mình. Mỗi cân gạo, mỗi viên đạn từ hậu phương lớn đến được các đơn vị phía trước phải mất thời gian cả năm hay nhiều tháng, phải đổi bằng biết bao mồ hôi, sức lực và cả bằng máu của những chiến sỹ hậu cần, các đơn vị vận tải hay các đoàn dân công. Trong điều kiện, hoàn cảnh đó sự đói cơm, lạt muối, thiếu thuốc chữa bệnh là chuyện thường xẩy ra đối với lực lượng cách mạng. Song không nơi nào, lúc nào lực lượng cách mạng thoát ly khỏi địa bàn công tác ngay cả những nơi khó khăn nhất, những thời kỳ đen tối nhất. Bởi vì nắm được dân, có cơ sở cách mạng, có phong trào là có tất cả.

2. Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gắn với xây dựng vùng căn cứ cách mạng vững mạnh

Trong kháng chiến, địa bàn tỉnh Lâm Đồng là nơi cư trú của hơn 30 dân tộc anh em. Người kinh, hầu hết sống tập trung trong các thị xã, thị trấn và dọc các đường giao thông, còn các địa bàn khác là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người. Trước đây, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn kinh tế, chính trị, tôn giáo để mua chuộc, lôi kéo đồng bào, gây chia rẽ, thù hằn giữa các dân tộc.

Địa bàn rộng lớn của Lâm Đồng là vùng cư trú của đồng bào dân tộc ít người, hành lang và căn cứ cách mạng được xây dựng trên những vùng này, đây là những vùng rất mới. Vì vậy, vận động, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ chính sách của Đảng, đặc biệt là mọi hành động và thái độ đối xử của cán bộ và chiến sĩ ta phải thực lòng, thực dạ phục vụ nhân dân thì mới tập hợp được quần chúng nhân dân tự giác làm cách mạng.

Tất cả những chủ trương, chính sách của Đảng phải luôn luôn thể hiện được quan điểm chung nhất là: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc, trong đó đoàn kết là vấn đề hàng đầu, bình đẳng là vấn đề nguyên tắc cơ bản, tương trợ là mối quan hệ thiết yếu giữa các dân tộc. Tất cả cán bộ, đảng viên xem việc thực hiện các nguyên tắc đó là một tiêu chí đầu tiên để xem xét tư cách của một đảng viên hoạt động ở vùng đồng bào dân tộc và có hình thức kỷ luật nghiêm minh đối với bất cứ ai vi phạm những nguyên tắc đó.

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ cách mạng ở Nam Tây Nguyên, xác định Lâm Đồng là chiến trường chính nhưng là chiến trường gây dựng cơ sở trong kháng chiến chống Pháp; trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các đội vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh 4, Liên tỉnh 3 và miền Đông Nam Bộ làm nhiệm vụ xây dựng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc ít người, nối thông đường hành lang chiến lược Bắc - Nam và hình thành vùng căn cứ cách mạng.

Do thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, nên chỉ trong một thời gian ngắn các đội vũ trang tuyên truyền đã vận động hơn 10.000 đồng bào tham gia cách mạng, xây dựng các vùng căn cứ phía Nam và phía Bắc đường 20 (tỉnh Lâm Đồng cũ), phía Tây Bắc tỉnh Tuyên Đức.

Thành công lớn nhất trong quá trình xây dựng căn cứ là phát động cuộc cải cách dân chủ và thực hiện 5 phong trào thi đua ở tỉnh Lâm Đồng (cũ) trong 2 năm 1965, 1966. Vì vậy vùng căn cứ không ngừng được củng cố và mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng cao, những hủ tục mê tín, dị đoan dần được xoá bỏ. Vùng căn cứ của tỉnh đã trở thành hậu phương trực tiếp vững chắc, là nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch.

Để xây dựng căn cứ vững mạnh, Đảng bộ Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc. Những cán bộ, đảng viên là người tại chỗ đã phát huy được vai trò lãnh đạo trong các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, là lực lượng nòng cốt trong việc vận động đồng bào thực hiện 5 phong trào thi đua.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng vùng căn cứ ở tỉnh Tuyên Đức gặp nhiều khó khăn do công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng của các đội vũ trang tuyên truyền làm chưa thật tốt, chưa có biện pháp chống lại âm mưu tôn giáo hoá của địch đối với đồng bào dân tộc ít người, không xây dựng được cơ sở cốt cán trong quần chúng. Trong khi đó, địch dùng lực lượng quân sự cưỡng ép, kết hợp với dùng thần quyền giáo lý và vật chất để dụ dỗ, lôi kéo đồng bào vào sống trong các khu tập trung, ấp chiến lược. Từ cuối năm 1963, vùng giải phóng của tỉnh tuy rộng lớn, nhưng chỉ có 300 dân ở vùng căn cứ huyện Lạc Dương. Do đó, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức không có một vùng căn cứ vững chắc để bảo đảm mọi yêu cầu cuộc kháng chiến.

3. Về vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị

Thị xã Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc là tỉnh lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch. Đặc biệt, Đà Lạt có vị trí quan trọng đối với Nam Tây Nguyên, có quan hệ mật thiết về kinh tế, chính trị và phong trào quần chúng với các đô thị miền Nam.

Thấy được tầm quan trọng và vị trí chiến lược đó, Liên Khu uỷ 5, Ban cán sự Cực Nam đã có chủ trương thành lập tổ chức Đảng, bố trí cán bộ trong lực lượng công nhân để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, xây dựng cơ sở trong quần chúng; trong giai đoạn chống mỹ, cứu nước, Khu ủy 6, Tỉnh ủy Tuyên Đức và thị ủy Đà Lạt đã từng bước vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị theo yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Hệ thống tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng ở Đà Lạt được tổ chức theo nhiều hệ khác nhau, đề phòng khả năng bị địch phá, nếu có bị tổn thất thì cũng chỉ tổn thất cục bộ, mất hệ này vẫn còn các hệ khác hoạt động. Nhằm tập hợp quần chúng thành một mặt trận đấu tranh rộng rãi, tổ chức Đảng và cơ sở bên trong luôn luôn nắm vững khẩu hiệu đấu tranh là: Hoà bình, độc lập, dân chủ, dân sinh. Những mục tiêu đó gắn chặt với nhau, được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, nhưng vẫn giữ được thế đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Do có quan hệ mật thiết với các đô thị khác ở miền Nam, nên phong trào đấu tranh chính trị ở Đà Lạt đã có sự phối hợp nhịp nhàng với phong trào bảo vệ Hoà Bình, phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên; phong trào đấu tranh của phật giáo; đấu tranh đòi thi hành hiệp định Paris... Ngược lại, những cuộc đấu tranh chính trị lớn ở Đà Lạt cũng được sự đồng tình, ủng hộ và có ảnh hưởng đến các địa phương khác.

Từ phong trào đấu tranh của quần chúng, ta đã chú ý xây dựng và bồi dưỡng cơ sở, cốt cán tại chỗ trên nguyên tắc tuyệt đối bảo đảm bí mật. Đây là lực lượng nòng cốt, hạt nhân lãnh đạo của các cuộc đấu tranh chính trị ở Đà Lạt, tập hợp được các tầng lớp nhân dân tham gia, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức công khai hợp pháp.

Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, hoạt động vũ trang ở Đà Lạt  cũng được đẩy mạnh, các đội cảm tử, các đơn vị biệt động, đội công tác, du kích mật của thị xã hoạt động trên các địa bàn, có nhiều trận đánh hiệu quả cao, gây được tiếng vang lớn, củng cố niềm tin vào sức mình, làm cho địch hoang mang lo sợ và bị động đối phó. Những chiến dịch lớn ở Đà Lạt như: Trừng trị các tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp; làm cho hồ Đà Lạt dậy sóng năm 1951; phong trào học sinh, sinh viên năm 1966; cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968; chiến dịch TK cuối tháng 5 năm 1970... đánh vào nhiều vị trí quan trọng của địch, làm chủ một số nơi trong thị xã đã khẳng định rằng Đà Lạt không còn là hậu cứ chiến lược an toàn, bất khả xâm phạm.

Do yêu cầu phương châm công tác đô thị nên công tác binh vận ở Đà Lạt cũng có những đặc điểm riêng biệt. Mục tiêu chủ yếu là xây dựng cơ sở, cốt cán trong ngụy quân, ngụy quyền làm nhiệm vụ cung cấp tình hình địch để ta có kế hoạch đối phó kịp thời, góp phần làm suy yếu, giảm hiệu lực bộ máy kèm của địch ở cơ sở, từ đó ta có điều kiện xây dựng các căn cứ chính trị bên trong thị xã.

Quá trình thực hiện phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận và phương thức công tác đô thị ở Đà Lạt đã mang lại một hiệu quả lớn đối với phong trào cách mạng địa phương. Sự vận dụng sáng tạo phương châm, phương thức công tác vào điều kiện cụ thể của địa phương là một kinh nghiệm lớn của Đảng bộ trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc đầy gian khổ, hi sinh nhưng vô cùng vẻ vang.

4. Về công tác xây dựng Đảng

Thực tiễn công tác xây dựng Đảng ở Lâm Đồng trong hai cuộc kháng chiến tuy chưa phong phú, nhưng Đảng bộ Lâm Đồng đã đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng.

Một đặc điểm về đội ngũ cán bộ của tỉnh Lâm Đồng là nguồn lực đến từ nhiều địa phương khác nhau. Do đó, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có ý  nghĩa quan trọng không chỉ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng mà nó còn gắn liền với công tác xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cốt cán trong quần chúng, từ đó mà phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ và hình thành hệ thống tổ chức chỉ đạo.

Trong công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ phát triển đảng viên được Đảng bộ đặt lên hàng đầu, đối tượng chủ yếu để phát triển đảng viên là cơ sở, cốt cán trong phong trào quần chúng, những quần chúng ưu tú trong phong trào công nhân, trong vùng căn cứ cách mạng, cán bộ, chiến sỹ trong các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức và vị trí công tác của từng đối tượng, công tác tuyên truyền giáo dục được tiến hành bằng các hình thức khác nhau, nhưng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, số lượng, chất lượng đảng viên  ngày càng được nâng cao, phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các chi bộ, Đảng bộ đã có kế hoạch bồi dưỡng trên cơ sở xác định tính chất, nhiệm vụ của từng chi bộ, từ đó đề ra phương hướng hoạt động, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với các chi bộ trong vùng địch kiểm soát, hình thức tổ chức và sinh hoạt phải tuyệt đối giữ bí mật, bám sát phong trào, cơ sở để chỉ đạo. Đảng bộ thường xuyên coi trọng công tác bồi dưỡng trình độ và năng lực cho các cấp ủy và đồng chí bí thư chi bộ để các chi bộ nâng cao chất lượng sinh hoạt, giữ được nề nếp và nguyên tắc của Đảng. Thường xuyên chú trọng học tập chính trị, rèn luyện tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nắm vững nguyên tắc phê bình và tự phê bình để nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng ở mọi cấp, mọi ngành trên cơ sở đó tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, giữ vững ý chí chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh.

Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cũng được Đảng bộ thường xuyên quan tâm nhằm quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, không ngừng nâng cao nhận thức, lập trường và ý chí chiến đấu, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tăng cường sự đoàn kết nhất trí, từ đó xác định trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngày nay, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới, nhưng những kinh nghiệm trên đây vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thiết thực, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Lượt xem: 193
Liên kết website

Thống kê truy cập
  • 000100586
  • Đang online: 37
  • Trong tuần: 5.467
  • Trong tháng: 8.569
  • Trong năm: 93.291